1. Khái niệm:

Viêm tai giữa ở trẻ nhỏ được xếp vào nhóm bệnh viêm đường hô hấp trên. Đây là một trong những bệnh rất thường gặp ở bên trong tai trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi với nhiều hậu quả xấu. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm hoặc để lại di chứng nặng nề, rất khó khắc phục, ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ. Việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đúng đắn, đóng vai trò quyết định trong tiên lượng bệnh, phòng ngừa biến chứng và các hậu quả lâu dài đối với trẻ.

2. Nguyên nhân:

-        Yếu tố thường gặp nhất là nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc rối loạn chức năng vòi nhĩ.

-        Nhiễm siêu vi vòm mũi họng dẫn đến viêm, phù nề vòi nhĩ, nhiễm siêu vi như là một tác nhân gây bệnh ở tai giữa.

-        Vi khuẩn thường gặp: Steptococcus, Pneumomiae, Heamophilus influenza …. Ở trẻ sơ sinh thường gặp nhất là vi khuẩn gram âm: Escheria coli, enterrococci….

-        Tuổi: trẻ em từ 6 - 18 tháng dễ bị bệnh nhất. Trẻ từ 4 tháng tuổi cũng dễ mắc bệnh.

-        Nhà giữ trẻ: trẻ em nơi các nhà giữ trẻ dễ bị nhiễm trùng hơn các em ở nhà.

-        Không khí thở không trong sạch: trẻ em ở nơi có khói thuốc lá hay nơi không khí ô nhiễm dễ bị bệnh.

-        Tiền sử gia đình: nếu trong gia đình có người dễ bị nhiễm trùng tai, các em cũng dễ bị hơn.

-        Dòng giống: người da đỏ và người Eskimo từ Alaska hay Canada dễ bị viêm tai hơn người da trắng.

-        Cách nằm bú: các em bé nằm bú dễ bị viêm tai hơn các em được đỡ cho đầu cao lên trong khi bú.

-        Theo mùa: các em dễ bị viêm tai vào mùa thu và mùa đông hơn.

3. Triệu chứng:

-        Trẻ sốt, thường là sốt cao 39 - 40oC, quấy khóc nhiều, bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, co giật...

-        Nếu là trẻ lớn, sẽ kêu đau tai, còn trẻ nhỏ chỉ biết lắc đầu, lấy tay dụi vào tai.

-        Rối loạn tiêu hóa: trẻ đi ngoài lỏng, nhiều lần, xuất hiện gần như đồng thời với triệu chứng sốt.

-        Tóm lại tất cả các em bé bị sốt không rõ nguyên nhân, những trẻ nhỏ bị tiêu chảy và nôn... đều phải được khám kỹ càng về tai mũi họng để có thể phát hiện sớm được bệnh VTG cấp.

-        Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, vài ngày sau (2 - 3 ngày) bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn vỡ mủ do màng tai bị thủng, mủ tự chảy ra ngoài qua lỗ tai với các biểu hiện sau:

+        Trẻ đỡ sốt, bớt quấy khóc, ăn được, ngủ được.

+        Hết rối loạn tiêu hóa, đi ngoài trở lại bình thường.

+        Không kêu đau tai nữa.

-        Các bà mẹ tưởng chừng như bệnh đã lui nhưng thực ra viêm tai giữa bắt đầu chuyển sang giai đoạn mạn tính, với một dấu hiệu rất quan trọng: chảy mủ tai.

-        Nếu vẫn không được điều trị bệnh sẽ diễn biến thành viêm tai giữa mạn tính hoặc viêm tai  xương chũm mạn tính, dẫn đến rất nhiều hậu quả xấu sau này cho trẻ, cùng với nguy cơ biến chứng có thể xảy ra vào bất kỳ lúc nào.

4. Biến chứng:

-        Viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương, gián đoạn chuỗi xương con... ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ. Trẻ bị nghe kém, nhất là từ khi chưa phát triển lời nói, sẽ dẫn đến rối loạn ngôn ngữ (nói ngọng, nói không rõ âm, từ...) làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng giao tiếp xã hội sau này của trẻ.

-        Nặng hơn nữa là những biến chứng nhiễm trùng, nhiều khi ảnh hưởng đến tính mạng: viêm tai giữa cấp có thể dẫn đến những biến chứng sọ não cực kỳ nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não do tai, viêm tắc tĩnh mạch bên, do viêm nhiễm lan từ trần hòm tai lên não hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số VII).

5. Điều trị:

           Việc chẩn đoán và điều trị viêm tai giữa ở trẻ nhỏ nhất thiết phải do các thầy thuốc chuyên khoa có kinh nghiệm tiến hành. Tùy theo từng giai đoạn của bệnh mà có cách điều trị khác nhau.

-        Giai đoạn đầu, khi màng nhĩ chưa thủng, thường phải dùng kháng sinh, hạ sốt, giảm đau, chống viêm và giảm xung huyết màng nhĩ, sát trùng mũi họng. Ngoài ra nếu trẻ bị rối loạn tiêu hóa nặng thì cần được phối hợp điều trị bởi các thầy thuốc nhi khoa. Nếu khám thấy màng nhĩ viêm đỏ, phồng, chứng tỏ có nhiều dịch viêm ứ đọng ở hòm tai thì phải chích rạch màng nhĩ, chủ động tháo bỏ dịch mủ trong tai giữa ra ngoài, không nên để cho mủ tự vỡ, làm thủng màng nhĩ hoặc lan vào xương chũm. Nói chung, trong trường hợp nghi ngờ có mủ thì nên chích rạch màng nhĩ sớm, thà chích rạch sớm còn hơn là chích rạch quá muộn. Vết chích sẽ tự liền lại rất nhanh sau 1 - 2 ngày.

-        Giai đoạn muộn, màng nhĩ đã thủng; ngoài các thuốc điều trị toàn thân, cần phải tiến hành làm thuốc tai hàng ngày tại các cơ sở tai mũi họng. Trẻ sau đó phải được theo dõi tình hình lỗ thủng màng nhĩ bởi các thầy thuốc chuyên khoa.

6. Phòng bệnh:

-        Không cho trẻ đến gần các trẻ bệnh. Không cho đi nhà trẻ quá sớm.

-        Giữ không cho trẻ hít khói thuốc.

-        Tất cả mọi người trong nhà phải ngưng hút thuốc.

-        Cho trẻ bú mẹ ít nhất là 6 tháng đầu. Trong sữa mẹ có nhiều kháng thể giúp trẻ chống bệnh.

-        Cho trẻ ngồi cao lên khi bú. Cho trẻ tiêm phòng đầy đủ.