1. Định nghĩa

Hẹp môn vị là hội chứng với biểu hiện chung là tình trạng lưu thông thức ăn, dịch dạ dày xuống tá tràng bị cản trở hoặc đình trệ hoàn toàn; hậu quả dẫn đến dạ dày bị giãn to, dịch và thức ăn ứ đọng ở dạ dày sau 6 giờ vẫn chưa lưu thông hết.

2. Nguyên nhân

          -          Ung thư hang – môn vị dạ dày: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Trong bệnh lý ung thư dạ dày, tỷ lệ ung thư vùng hang – môn vị chiếm cao nhất, vào khoảng 20 – 60%. Khối u sùi vùng hang – môn vị cùng với tình trạng thâm nhiễm ở thành dạ dày xung quanh làm hẹp lòng hang – môn vị. Tình trạng hẹp môn vị tăng dần theo tiến triển của khối u.

          -          Loét dạ dày: Đây là nguyên nhân thứ hai gây hẹp môn vị. Trước đây, loét tá tràng không được điều trị dứt điểm nên hay dẫn tới loét xơ chai, gây biến dạng, co kéo và chít hẹp môn vị. Ngày nay, dựa vào sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh bệnh loét dạ dày tá tràng cũng như sự phát triển của các thuốc điều trị nên biến chứng hẹp môn vị do loét tá tràng giảm đi đáng kể.

          -          Ngoài hai nguyên nhân trên, còn có thể do một số nguyên nhân khác như: Các u lành tính vùng hàng môn vị, teo cơ hang vị, hẹp phì đại môn vị; u tụy xâm lấn môn vị, tá tràng; viêm dính quanh tá tràng.

3. Triệu chứng

a. Giai đoạn đầu:

            Bệnh xuất hiện đau bụng với tính chất thường đau sau bữa ăn, đau vùng thượng vị, đau giảm đi sau khi nôn. Kèm theo đau bụng là có nôn: Xuất hiện sớm sau khi ăn, có khi nôn ra thức ăn của bữa ăn trước cùng dịch dạ dày màu xanh đen. Ngoài ra, bệnh nhân có cảm giác đầy bụng, ậm ạch, khó tiêu.

            Nếu chụp dạ dày có uống baryte: Dịch đọng lẫn baryte trong dạ dày nhiều. Dạ dày co bóp nhiều và mạnh. Có hiện tượng tăng sóng nhu động xuất hiện từng đợt, xen kẽ là hình ảnh dạ dày giãn. Nếu nội soi thường thấy dạ dày ứ đọng nhẹ, môn vị phù nề, lỗ môn bị co thắt, đặt ống soi hơi khó nhưng vẫn qua được.

b. Giai đoạn tiến triển:

Lúc này đau thường xuất hiện sau ăn 2 – 3 giờ, đau từng cơn liên tiếp nhau, bệnh nhân không dám ăn, mặc dù rất đói. Bên cạnh đó bệnh nhân nôn ngày càng nhiều, nôn ra dịch ứ đọng trong dạ dày, màu xanh đen, có thức ăn của bữa mới lẫn với thức ăn của bữa trước chưa tiêu. Sau nôn bệnh nhân hết đau. Thể trạng bệnh nhân lúc này gầy, da khô và mệt mỏi.

Nếu chụp Xquang uống baryte lúc này cho thấy dạ dày giãn to, đáy sa thấp dưới mào chậu. Sóng nhu động nhiều và mạnh trong giai đoạn tăng trương lực, ở giai đoan mất trương lực, dạ dày co bóp ít hoặc không co bóp. Sau 6 – 12 giờ, nếu chiếu hoặc chụp lại sẽ thấy thuốc cản quang đọng lại khá nhiều ở dạ dày, hình dạ dày giãn to, thuốc cản quang không qua môn vị. Nội soi sau khi rửa sạch dạ dày thấy: dạ dày ứ đọng nhiều dịch nâu có cặn thức ăn; dạ dày giãn, vùng hang, môn vị phù nề, lỗ môn vị thắt nhỏ. Khó có thể đưa ống soi đi tiếp.

c. Giai đoạn cuối:

Bệnh nhân  thường xuyên có cảm giác đầy bụng, trướng bụng, ậm ạch, ăn uống khó tiêu. Đau liên tục nhưng nhẹ hơn giai đoạn trước. Nôn ít hơn, nhưng mỗi lần nôn ra rất nhiều dịch ứ đọng và thức ăn bữa trước, chất nôn có mùi thối; tình trạng toàn thân suy sụp rõ rệt.

Chụp Xquang cho thấy dạ dày không còn sóng nhu động, hoặc nếu có thì rất yếu. Sau 12 – 24 giờ hay hơn nữa, baryte vẫn còn đọng ở dạ dày khá nhiều, có khi vẫn còn nguyên. Nội soi dạ dày – tá tràng ở giai đoạn này dễ dàng xác định hẹp môn vị với các dấu hiệu: dạ dày giãn to, ứ đọng nhiều dịch, niêm mạc viêm đỏ, môn vị chít hẹp hoàn toàn, không thể đưa ống soi qua được.

4. Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định: Dựa vào các triệu chứng ngoài ra các bác sỹ sẽ tiến hành cho chụp Xquang dạ dày.

Chẩn đoán phân biệt:

          -          Bệnh giãn to thực quản: XQ có cản quang thấy thực quản giãn to.

          -          Liệt dạ dày: Do yếu tố thần kinh, dạ dày mất trương lực ì ra. Các triệu chứng xuất hiện không thường xuyên và có thể tự hồi phục hoàn toàn.

5. Điều trị

Trước hết phải phân biệt là hẹp cơ năng hay thực thể:

          -          Hẹp môn vị cơ năng cần điều trị nội khoa bằng kháng sinh, truyền dịch, các thuốc chống co thắt.

          -          Hẹp môn vị thực thể phải điều trị ngoại khoa, trước khi phẫu thuật phải bồi phụ nước, điện giải và cung cấp năng lượng cho bệnh nhân. Mục đích chính là phẫu thuật giải quyết tình trạng hẹp và có thể đồng thời chữa triệt căn. Tốt nhất là phẫu thuật cắt đoạn dạ dày nếu bệnh nhân đến viện sớm, tình trạng toàn thân cho phép, chuẩn bị tốt. Nếu bệnh nhân đến muộn, yếu, tình trạng toàn thân không cho phép, nên phẫu thuật nối vị tràng.

6. Người bệnh hỏi Bác Sĩ trả lời

Câu  hỏi 1

Tôi có tiền sử bệnh loét dạ dày, đã dùng thuốc Nexium, Gastro... Tôi nội soi phát hiện bị viêm hang vị xung huyết. Xin cho hỏi viêm hang vị xung huyết là bệnh gì và hướng điều trị bằng loại thuốc nào và có thể điều trị ở đâu?

Trả lời:

Dạ dày là nơi phình to nhất trong hệ thống đường tiêu hóa của con người, nó nối phần cuối thực quản với phần đầu ruột non (tá tràng). Dạ dày có hình dạng chữ J, được chia làm nhiều phần, bắt đầu từ tâm vị, phình vị, thân vị, hang vị và tận cùng là môn vị. Dạ dày có 2 bờ là bờ cong lớn và bờ cong nhỏ. Hang vị là phần nằm ngang của dạ dày, từ góc bờ cong nhỏ tới lỗ môn vị.

Viêm loét dạ dày là chẩn đoán chung dựa trên thăm khám lâm sàng, qua nội soi sẽ thấy rõ vị trí tổn thương nằm ở đoạn nào của dạ dày và tình trạng, mức độ tổn thương…Tùy theo hình ảnh nội soi mà viêm dạ dày có 7 thể bao gồm viêm dạ dày trợt lồi, viêm dạ dày trợt phẳng, viêm dạ dày phì đại, viêm teo dạ dày, viêm dạ dày trào ngược dịch mật, viêm dạ dày xuất huyết và viêm dạ dày xung huyết.

Viêm hang vị xung huyết là tình trạng niêm mạc vùng hang vị dạ dày viêm, các mạch máu vùng viêm dãn nở do ứ máu nhiều. Thường xuất hiện sau khi dùng rượu, bia, hóa chất, thuốc (nhất là các thuốc giảm đau chống viêm không streroid), các chất kích thích như cà phê, ớt…

Biểu hiện chủ yếu là đau bụng cồn cào, kèm theo ợ hơi, ợ chua, có thể có cảm giác buồn nôn hoặc nôn.

Bạn không cho biết có bị nhiễm vi trùng HP (Helicobacter Pylori) không, nếu có thì phải dùng kháng sinh diệt vi trùng. Ngoài ra, cần sử dụng thêm các thuốc băng niêm mạc dạ dày, trung hòa dịch vị, nuôi dưỡng niêm mạc dạ dày, an thần.

Bạn nên khám ở bệnh viện có chuyên khoa Tiêu hóa để được điều trị thích hợp nhé. Bên cạnh đó cần kiêng ăn uống chua, cay, rượu bia, thuốc lá… Tránh căng thẳng lo lắng, cần ăn ngủ điều độ.

Câu hỏi 2

Tôi 45 tuổi. Gần đây rất hay bị ợ chua, đau bụng, buồn nôn. Đi khám, bác sĩ kết luận tôi bị viêm hang vị sung huyết. Xin quý báo cho biết nguyên nhân gây bệnh và cách điều trị bệnh này.

 Trả lời:

Viêm hang vị sung huyết là tình trạng niêm mạc vùng hang vị dạ dày viêm, các mạch máu vùng viêm giãn nở do ứ máu nhiều. Thường xuất hiện sau khi dùng rượu, bia, hóa chất, thuốc (nhất là các thuốc giảm đau chống viêm không steroid), các chất kích thích như cà phê, ớt...

Nguyên nhân gây bệnh là do chế độ ăn uống không hợp lý (ăn uống không đúng giờ, ăn nhiều thức ăn chua cay, béo hoặc ăn thiếu dinh dưỡng...), uống nhiều bia rượu, do dùng thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid, do yếu tố thần kinh căng thẳng, do bệnh lý nội tiết và đặc biệt viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP).

Biểu hiện chủ yếu là đau bụng cồn cào kèm theo ợ hơi, ợ chua, có thể có cảm giác buồn nôn hoặc nôn. Để chẩn đoán viêm hang vị sung huyết phải dựa vào hình ảnh trên nội soi, thấy rõ được vùng hang vị đang bị sung huyết.

Nếu đã biết mình mắc bệnh, bạn cần xét nghiệm xem có nhiễm vi khuẩn HP không? Nếu có cần phải điều trị bằng kháng sinh. Ngoài ra, cần sử dụng thêm các thuốc băng niêm mạc dạ dày, trung hòa dịch vị, nuôi dưỡng niêm mạc dạ dày, an thần.

Việc điều trị bệnh viêm dạ dày thường mất nhiều thời gian nên có tác động rất lớn tới tâm lý người bệnh. Nếu người bệnh càng lo lắng thì bệnh càng lâu khỏi, thậm chí có những lúc còn cảm thấy nặng hơn. Do vậy ngoài việc đi khám bác sĩ chuyên khoa và tuân thủ đúng phác đồ điều trị, thời gian điều trị, chế độ ăn uống, bạn cần có một tinh thần thoải mái, chế độ dinh dưỡng phù hợp, không ăn đồ cay, nóng; nên cai rượu, thuốc lá...