1. Khái niệm

            Xơ gan là một bệnh của gan mà trong đó tế bào bình thường được thay thế bởi mô xơ. Ðiều này dẫn đến suy gan thể hiện qua các chức năng bình thường của nó.

            Xơ gan cổ chướng là xơ gan giai đoạn cuối, nếu không sớm điều trị có thể gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm.

2. Nguyên nhân

            Nguyên nhân dẫn đến xơ gan cổ chướng thường là ở xơ gan, khi bệnh nhân mắc xơ gan chức năng gan suy giảm dẫn đến chứng cao áp tĩnh mạch cửa, rồi dẫn đến lá lách to, từ đó không hấp thụ được protein và vitamin mà còn đào thải protein hình thành phù thũng.

3. Triệu chứng

            Triệu chứng toàn thân biểu hiện như tình trạng dinh dưỡng kém, giảm cân, tinh thần uể oải, bệnh nhân mệt mỏi chỉ muốn nằm một chỗ, da khô, sắc mặt kém, thiếu máu, viêm lưỡi, quáng gà, viêm phù dây thần kinh.... Ngoài ra có thể sốt nhẹ, có thể do tế bào gan bị hoại tử ;gan bị ung thư, mất khả năng giải độc làm cho chất độc tấn công vào đường tiêu hóa.

            Đau ở khu vực gan: Không ít bệnh nhân đau ở khu vực gan, đau liên tục hoặc đau dữ dội. Gan đau là do khối u tăng trưởng nhanh, thành gan bị kéo ra. Nếu bệnh tình phát triển cơ hoành bị tổn thương, có thể bị đau vai phải. Trong thời gian kết thành ung thư, có thể xuất hiện đau đột ngột. Nếu xuất huyết máu nhiều, có thể ngất hoặc sốc.

Xuất hiện vàng da giai đoạn cuối, có thể là do tế bào gan bị tổn hại gây ra, hoặc do ung thư gan.

Ngoài ra bệnh nhân xơ gan cổ chướng giai đoạn cuối có thể xuất hiện phù gan, lượng calcium cao. Bệnh nhân khi xuất hiện các triệu chứng này phải ngay lập tức điều trị, không nên lạm dụng thuốc tránh tác dụng phụ; bệnh nhân nên áp dụng phương pháp điều trị khoa học tranh thủ thời gian sớm phục hồi sức khỏe.

4. Điều trị

a. Chế độ ăn hạn chế muối và dùng thuốc lợi tiểu theo đường uống.

b. Chọc tháo dịch cổ chướng: Mỗi lần chọc tháo khoảng trên 5 lít. (Tuy nhiên điều cần lưu ý là cần vô trùng thật triệt để, dùng kim nhỏ cho dịch chảy ra từ từ). Khi chọc tháo dịch sẽ mất đi một lượng anbumin, để hạn chế nhược điểm này sau khi hút hết dịch cổ chướng người ta truyền Alverin, Dextran, Plasma, Glucoza 30% vào tĩnh mạch cho bệnh nhân (bù lại lượng albumin mất, vừa giữ nước ở lại lòng mạch không thoát vào khoang màng bụng nữa, hoặc chỉ thoát một cách chậm chạp).

c. Dùng thuốc lợi tiểu: Có lợi thế là vẫn bảo toàn và bổ xung nồng độ bổ thể trong huyết thanh cũng như trong dịch cổ chướng.

d. Siêu lọc dịch cổ chướng ngoài cơ thể và tái truyền: Tĩnh mạch anbumin mang lại lợi ích bảo tồn protein hạ được giá thành so với truyền anbumin. Hai kiểm nghiệm gần đây thông báo hiệu quả tương tự và khả năng kéo dài cuộc sống của người bệnh điều trị vừa chọc hút dịch vừa truyền anbumin. Sốt và thay đổi tính đông máu là trở ngại với người bệnh để giải quyết nên truyền lại dịch vào màng bụng hơn vào tĩnh mạch.

e. Ghép gan: Có thể điều trị cổ chướng nhờ thay đổi gan đã xơ bằng một gan bình thường. Chỉ 25% người bệnh kéo dài cuộc sống thêm một năm khi sử dụng lợi tiểu đơn thuần, trong khi đó ghép gan có 75% người bệnh kéo dài cuộc sống. Những người bệnh điều trị bằng phương pháp khác không kết quả nên nghiên cứu đặt vấn đề ghép gan cho họ.

Khi điều trị cổ chướng tốt nhất là điều trị nội trú vì:

          -          Nghỉ ngơi tại giường về mặt lý thuyết có thể làm giảm renin huyết thanh và tăng Natri niệu nhưng lại có thể gây loét do nằm.

          -          Theo dõi được chế độ ăn kiêng cho bệnh nhân

          -          Theo dõi được điện giải máu, niệu và creatinin máu để bổ xung kịp thời.

          -          Theo dõi được lượng nước ra, vào để bổ xung hoặc bớt đi kịp thời .5. Câu hỏi liên quan

Câu 1: Bệnh nhân xơ gan cổ chướng không thể ăn những loại thực phẩm nào?

            Bệnh nhân xơ gan cổ chướng không thể ăn cay, nếu không những thực phẩm có tính kích thích cay sẽ có tác dụng kích thích niêm mạc đường tiêu hóa, dễ làm xói mòn, phù nề, xung huyết đường tiêu hóa.

            Không được ăn nhiều muối và không được uống nhiều nước, nếu không sẽ xuất hiện những dị thường trong trao đổi natri và nước, khiến cho tình trạng xơ gan cổ chướng càng nghiêm trọng hơn.

            Tuyệt đối không uống rượu bia

            Ngoài ra phải chú ý, không ăn thực phẩm ngọt, thực phẩm có hàm lượng đường cao, thực phẩm rắn như các loại hạt.

Câu 2: Điều trị xơ gan cổ chướng bằng đông y như thế nào?

Theo đông y Thể xơ gan cổ trướng  có 3 loại:

Âm hư thấp nhiệt: Thể này thường kèm theo chảy máu. Triệu chứng: sắc mặt vàng tối, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chân phù, sốt hâm hấp, hoặc sốt cao, phiền táo, miệng khát, họng khô, lợm giọng, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sác. Phép chữa: thanh nhiệt, hóa thấp, dưỡng âm, lợi thủy:

            Bài 1: Nhân trần, thạch hộc, sa sâm, sinh địa, xa tiền, trạch tả, bạch mao căn, hậu phác, trần bì, bán hạ chế, chi tử, nước 3 bát sắc còn 1 bát, uống trong ngày một thang.

            Bài 2: Thục địa, sơn thù, hoài sơn, trạch tả, đơn bì, phục linh, bạch truật, đương quy, địa cốt bì, bạch mao căn.

Tỳ thận dương hư: Triệu chứng: mệt mỏi, ăn kém, bụng trướng, chân phù, tiểu tiện ít, đại tiện lỏng, sợ lạnh, sắc mặt vàng hoặc xanh nhợt, chất lưỡi nhạt hoặc bệu, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế. Phép chữa: ôn thận tỳ dương, hành thủy.

            Bài 1: Phụ tử chế, nhục quế , chỉ xác, mộc hương, bạch truật, ý dĩ, trạch tả, hoài sơn, kê nội kim, xa tiền tử.

            Bài 2: Phụ tử chế, quế chi, gừng khô, phục linh, hậu phác, trạch tả, đại phúc bì, huỳnh kỳ , xuyên tiêu.

Thể cổ trướng nhiều, thủy khí tương kết: Triệu chứng: Cổ trướng tăng nhanh, không nằm được, tiểu tiện ít, đại tiện không thông, mạch huyền sác. Chú ý theo dõi mạch, huyết áp tránh trụy mạch do mất nước và điện giải quá nhiều.

            Bài 1: Cam toại nướng, thương lục, đại phúc bì, đại hoàng , hắc sửu, úc lý nhân, nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống nguội sáng chiều.

            Bài 2: Nguyên hoa, cam toại, đại kích, phơi khô tán bột. Ngày uống  vào buổi sáng với nước đại táo.

            Bài 3: Cây lá trạch lan, rễ muồng trâu (sao rượu), rễ bồ ngót, lá tía tô, hậu phác, lá dâu. Nước vừa đủ, sắc còn 1/2 uống ấm trong ngày.

            Bài 4: Hương phụ chế, vỏ quýt sao, vỏ cau sao, hậu phác, cam thảo, nước vừa đủ, sắc uống như trên.

            Bài 5: Hoàng cầm, sơn chi tử, nhân trần , đình lịch tử, long đờm thảo. Nước vừa đủ sắc còn 1/3 uống ấm trong ngày một thang.