1. Định nghĩa

Áp xe gan do Amip là một bệnh nhiễm khuẩn gan mật do tác nhân entamoeba histolytica - thể hoạt động của amíp. Nó ăn hồng cầu và tiết ra độc tố hủy hoại tế bào gan.

2. Nguyên nhân

Nguyên nhân bệnh là do thể hoạt động gây bệnh của amíp (Entamoeba histolytica) gây ra, thường gặp sau bệnh lỵ amíp hoặc lỵ mãn tính (Glack 51%).

3. Triệu chứng

a. Thể điển hình:

Áp xe gan thế điển hình là thể hay gặp nhất chiếm khoảng 60-70% trường hợp, có 3 triệu chứng chủ yếu hợp thành tam chứng Fontan ( sốt, đau hạ sườn phải, gan to ).

          −          Sốt: Có thể 39 - 400C, có thể sốt nhẹ 37.5 - 380C. Thường sốt 3 - 4 ngày trước khi đau hạ sườn phải và gan to nhưng cũng có thể xảy ra đồng thời với 2 triệu chứng đó.

          −          Đau hạ sườn phải và vùng gan : Đau mức độ cảm giác tức nặng nhoi nhói từng lúc, đau mức độ nặng, đau khó chịu không dám cử động mạnh. Đau hạ sườn phải xuyên lên vai phải, khi ho đau tăng. Đau triền miên kéo dài suốt ngày đêm.

          −          Gan to và đau: Gan to không nhiều 3-4 cm dưới sườn phải mềm, nhẵn, bờ tù, ấn đau. Làm nghiệm pháp rung gan sẽ tìm thấy một điểm đau chói hay đau trội ở kẽ sườn.

Ngoài tam chứng Fontan là chủ yếu có thể gặp một số triệu chứng khác ít gặp hơn:

          −          Rối loạn tiêu hoá: Ỉa lỏng hoặc ỉa nhày máu giống lỵ, xảy ra đồng thời với sốt trước hoặc sau sốt vài ba ngày.

          −          Ăn kém: Vì mệt mỏi, không ngon miệng chứ không phải vì khó tiêu, chướng bụng. Mệt mỏi, gầy sút nhanh  làm cho chẩn đoán nhầm là ung thư gan.

          −          Có thể có phù nhẹ ở mu chân (do nung mủ kéo dài dẫn đến hạ Protein máu gây phù). Cổ chướng: Đi đôi với phù hậu quả của suy dinh dưỡng, không có tuần hoàn bàng hệ.

          −          Tràn dịch màng phổi : thường do áp xe vỡ ở mặt trên gan gần sát cơ hoành gây phản ứng viêm do tiếp cận, do đó tràn dịch không nhiều thuộc loại dịch tiết.

          −          Lách to: Rất hiếm gặp, lách to ít l - 2cm dưới bờ sườn trái dễ nhầm với xơ gan khoảng cửa.

b. Thể không điển hình:

          −          Thể không sốt: Thật ra hoàn toàn không sốt thì không có mà là sốt rất ít một ba ngày rồi hết hẳn làm cho bệnh nhân không để ý, chỉ thấy đau hạ sườn phải, gầy sút cân... thể này gặp 9,3%. - - Thể sốt kéo dài: Hàng tháng trở lên liên tục hoặc ngắt quãng, gan không to thậm chí cũng không đau gặp 5%.

          −          Thể vàng da: Chiếm 3% do khối áp xe đè vào đường mật chính.Thể này bao giờ cũng nặng, dễ nhầm với áp xe đường mật hoặc ung thư gan, ung thư đường mật.

          −          Thể không đau: Gan to nhưng không đau, do ổ áp xe ở sâu hoặc ổ áp xe nhỏ, thể này chiếm khoảng l,9%.

          −          Thể suy gan: Do ổ áp xe quá to phá huỷ 50% tổ chức gan, ngoài phù cổ trướng thăm dò chức năng gan bị rối loạn, người bệnh có thể chết vì hôn mê gan.

          −          Thể theo kích thước của gan: Gan không quá to do ổ áp xe nhỏ, nhưng ngược lại gan quá to ( to quá rốn ) to có khi tới hố chậu.

          −          Thể áp xe gan trái: Rất ít gặp, chiếm khoảng 3 -5% trường hợp, chẩn đoán khó, dễ vỡ vào màng tim gây tràn mủ màng tim.

          −          Thể phổi màng phổi: Do viêm nhiễm ở gan lan lên gây phản ứng màng phổi, hay do vỡ ổ áp xe lan lên phổi.

          −          Thể có tràn dịch màng ngoài tim: Ngay từ đầu khi thành lập ổ áp xe ở gan đã có biến chứng vào màng ngoài tim, triệu chứng về bệnh tim nổi bật, còn triệu chứng về áp xe gan bị che lấp di.

          −          Thể giả ung thư gan: Gan cũng to và cứng như ung thư gan, hoặc cũng gầy nhanh. Thể này gặp tỷ lệ 15 -16% trường hợp.

 

4. Chẩn đoán

Ngoài dựa vào các triệu chứng các Bác sỹ sẽ làm các xét nghiệm sau:

          -          Xét nghiệm máu: BC tăng, máu lắng tăng.

          -          Chụp X quang phổi: Bóng gan to.Vòm hoành bị đầy lên cao, di động kém. Góc sườn hoành phải tù (do tràn dịch màng phổi ).

          -          Soi ổ bụng: Hoặc thấy trực tiếp ổ áp xe hoặc thấy hình ảnh gián tiếp của áp xe gan như: gan to và những biểu hiện viêm nhiễm trên.

          -          Siêu âm gan: Áp xe gan a mip ở giai đoạn viêm và hoại tử thể hiện thành một khối đặc tăng âm hoặc giảm âm, sang giai đoạn áp xe đã có mủ sẽ thấy một hình hốc rỗng âm, ở giữa có một số âm đậm rải rác hoặc 2, 3 ổ áp xe rời nhau ở cùng một phân thuỳ hoặc ở nhiều phân thuỳ khác nhau. Kích thước ổ áp xe gan do a mip tương đối lớn thường từ 5 -10cm.

5. Biến chứng

a. Biến chứng do vỡ ổ áp xe:

          -          Vỡ vào phổi: Bệnh nhân khạc ra mủ hoặc ộc ra mủ, mủ có màu socola, không thối.

          -          Vỡ vào màng phổi: Gây tràn dịch màng phổi phải. Tràn dịch thường nhiều, gây khó thở đột ngột, đây là một cấp cứu nội khoa phải chọc màng phổi hút dịch nếu không bệnh nhân bị chết vì choáng hoặc bị ngạt thở.

          -          Vỡ vào màng ngoài tim: Hay xảy ra với áp xe gan nằm ở phân thuỳ 7 - 8 hoặc ổ áp xe ở gan trái.

          -          Vỡ vào màng bụng gây viêm phúc mạc toàn thể: Đột nhiên đau bụng, sốt tăng lên, bụng cứng, đau toàn bụng.

          -          Vỡ vào ống tiêu hoá như: Vỡ vào dạ dày ( nôn ra mủ ), vỡ vào đại tràng (đại tiện ra mủ ).

b. Biến chứng do mưng mủ sâu kéo dài:

Biến chứng này dẫn tới cơ thể ngày càng suy kiệt và bệnh nhân sẽ tử vong.

c. Biến chứng bội nhiễm ổ áp xe:

Ổ áp xe gan do a mip để lâu có thể bị nhiễm khuẩn thêm vào, thường là vi khuẩn yếm khí, vi khuẩn Gram âm. Biến chứng này gặp l% trường hợp.

6. Điều trị

a. Dùng thuốc chống Amip đơn thuần:

          -          Dùng thuốc diệt Amip đơn thuần với các áp xe gan do Amip thể nhẹ hoặc thể vừa.

          -          Dùng thuốc diệt Amip đơn thuần với loại áp xe gan Amip có kích thước không lớn quá (đường kính khoảng 6cm ).

          -          Dùng thuốc diệt Amip đơn thuần cho những bệnh nhân bị áp xe gan do Amip đến sớm ( trước 1 tháng )

b. Chọc hút mủ ổ áp xe gan Amip với thuốc diệt Amip:

Chỉ định:

          -          Ổ áp xe gan quá to đường kính > 6cm.

          -          Bệnh nhân bị áp xe gan do Amip đến muộn trên 1 tháng.

Phương pháp:

Chọc hút mủ dưới hướng dẫn của soi ổ bụng hoặc của siêu âm. Số lần chọc hút có thể 1,2 thậm chí 3 lần. Thực tiễn cho thấy có trường hợp chọc hút tới 2,5 lít mủ phối hợp với thuốc diệt Amip khỏi hoàn toàn.

c. Phẫu thuật kết hợp với dùng thuốc diệt Amip:

Chỉ định: Ngày càng thu hẹp, chỉ giới hạn trong một số trường hợp sau:

          -          Khi áp xe gan đã biến chứng nguy hiểm.

          -          Ở bệnh nhân áp xe gan có đe dọa biến chứng nhưng vì một lý do nào đó không chọc hút mủ ổ áp xe được thì phải phẫu thuật.

          -          Bệnh nhân bị áp xe gan Amip đến quá muộn (khi bệnh kéo dài trên 4 tháng) điều trị nội khoa bằng chọc hút mủ và thuốc diệt Amip không có kết quả.

          -          Ổ áp xe quá to, gan to quá rốn tới hố chậu và nổi phồng lên, sờ vào thấy căng như một bọc nước.

7. Phòng bệnh

          -          Thực hiện ăn chín, uống sôi, ăn rau sống phải rửa thật kĩ, tốt nhất là rửa dưới vòi nước, ngâm rau trong dung dịch sát khuẩn trước khi ăn.

          -          Quản lý phân, chất thải và đồ dùng trong sinh hoạt của người bệnh lỵ. Không để vương vãi làm mầm bệnh gieo rắc nhiều nơi.

          -          Điều trị người bệnh lỵ amip triệt để, không để bệnh trở thành mạn tính.