1. Nguyên nhân:

Những yếu tố lâm sàng có tính định hướng:

Tuổi tác: Những người dưới 30 tuổi, viêm gan B hay gặp nhất. Ung thư tụy và đường mật hầu như ít gặp.

Giới: sỏi gan mật ở nữ hay gặp hơn ở nam; xơ gan mật chủ yếu là ở nữ.

Tiền sử cá nhân: Nếu vàng da từ bé thì bệnh mang tính chất gia đình được gọi là bệnh Dubin-Johuson, Rotor. 

Nếu đường gan mật đã từng phải mổ thì nghĩ tới chít hẹp đường mật sau mổ.

Người bệnh tiểu đường trên 50 tuổi thường dễ bị ung thư tụy.

Người nghiện rượu lâu năm dễ bị vàng da do xơ gan, viêm gan.

Người có ung thư nơi khác đã được chẩn đoán hoặc vừa mổ có thể đã di căn vào gan.   

Viêm gan tái phát hoặc tắc nghẽn đường mật chính từng đợt do sỏi, do u dễ dẫn tới từng đợt vàng da tái diễn.

Tình trạng ngứa đã tồn tại nhiều năm tháng là do ứ mật kinh diễn trong gan hoặc ngoài gan gây nên vàng da.

Nếu người bệnh đã từng sống ở những vùng có ký sinh trùng gây bệnh (như Ðịa Trung Hải) thường có các kén nước trong gan gây ứ mật vàng da.

Viêm gan virut dễ lây truyền qua nhiều người cùng sống trong tập thể hoặc lưu trú ở những vùng có bệnh lưu hành (châu Phi, châu á); ăn các loại ốc sò, qua truyền máu hoặc truyền thuốc theo đường tĩnh mạch, tiêm chủng, chữa đau răng, v.v...

Vàng da còn có thể là do ăn nhiều trong thời gian dài thực phẩm có chất caroten như cà rốt, đu đủ, cà chua. Những trường hợp vàng da này không liên quan tới tình trạng tăng chất bilirubin. Chỉ cần không ăn các thực phẩm nói trên chứng vàng da sẽ hết.

2. Dấu hiệu bệnh:

Một số triệu chứng trước khi vàng da (3-4 tuần) khá đặc trưng:

Viêm gan do rirut: Có các triệu chứng nhiễm khuẩn, tiêu hóa, viêm khớp.

Sỏi đường mật chủ: Cơn đau quặn gan, sốt kèm theo rét run, 24-48 giờ trước khi xuất hiện vàng da.

Ung thư tụy: Người bệnh gầy nhanh, đau vùng bụng trên âm ỉ, lan trái và ra đằng sau, tiểu đường mới được phát hiện.

Tắc nghẽn đường mật chủ do ung thư: ngứa trước khi vàng da vài tuần.

3. Chẩn đoán:

Khám xét lâm sàng:

Sờ thấy túi mật to, gan to, khẳng định tắc nghẽn ở ống mật chủ.

Sờ thấy gan to nhưng túi mật bé, nghĩ tới tắc nghẽn trong gan.

Gan không to, túi mật bé ở người vàng da thực sự thì chắc chắn không có tắc nghẽn đường dẫn mật chủ.

Vàng da kèm theo lách to: Nghĩ tới viêm gan hoặc xơ gan.

Gan to cứng như đá, mặt gồ ghề, phản ứng nhạy khi nắn vào thì có thể kết luận chắc chắn ung thư gan tiên phát hay thứ phát.

Gan cứng kèm theo tuần hoàn bàng hệ trên bụng thì hướng nhiều vào xơ gan.

Xét nghiệm:

Các xét nghiệm sinh hóa giúp định hướng chẩn đoán, cần được tiến hành ngay từ đầu mới có giá trị.

Siêu âm: phát hiện u cục, kén, sỏi trong gan...

X quang: Có thể phát hiện sỏi canxi túi mật (chứng cớ của sỏi đường dẫn mật chủ) nhưng phải cẩn thận vì có sỏi hiện diện nhưng và phân biệt được ứ mật trong gan hay ngoài gan ở trên 80% bệnh nhân. Ngoài ra còn có thể phát hiện được tính chất ung thư gây vàng da và cả tiên lượng.

Sinh thiết gan: Sẽ phân biệt được ung thư gan, xơ gan và một số tổn thương khác ít gặp hơn như xơ gan mật nguyên phát.

4. Điều trị:

Cần căn cứ nguyên nhân gây bệnh để có hướng điều trị.

Có thể nói ngắn gọn: Đã có vàng da là có ứ mật trong gan (viêm do virut, thuốc men hoặc u cục...) hoặc là ứ mật ngoài gan (sỏi gan mật, ung thư tụy hay đường mật...). Ðiều quan trọng là phải phân biệt được vàng da với yêu cầu phẫu thuật và vàng da mà không phải phẫu thuật vì phẫu thuật không cần thiết mà có khi còn nguy hiểm.