1. Định nghĩa

Polyp đại trực tràng là bệnh khá thường gặp, đây là những khối u lồi vào trong lòng đại trực tràng, chúng được hình thành do sự tăng sinh quá mức của niêm mạc đại trực tràng. Mặc dù đa phần là lành tính, song một số polyp đại trực tràng có thể trở thành ung thư.

2. Nguyên nhân

            Có nhiều công trình nghiên cứu về các nguyên nhân hình thành polyp, cho tới nay có thể biết được đó là: Do đột biến gen làm phát triển tế bào không bình thường tạo thành polyp, thậm chí dẫn tới ung thư; bệnh polyp mang tính gia đình hoặc di truyền như: Bệnh polyp gia đình (FAP – Familial Adenomatous Polyps), hội chứng Garner, Turcot...

            Về các yếu tố nguy cơ, bệnh thường liên quan tới tuổi tác, tuổi càng cao tỷ lệ gặp polyp càng lớn, nam gặp nhiều hơn nữ, hút thuốc và uống rượu nhiều, béo phì, bữa ăn giàu chất béo, lối sống ít hoạt động thể lực, đã từng mắc các bệnh lý viêm đại trực tràng mạn tính.

3. Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân có polyp đại trực tràng thường rất nghèo nàn, âm thầm và hay gặp ở rất nhiều bệnh lý khác nhau. Dưới đây là một số triệu chứng có thể gặp ở bệnh nhân polyp đại trực tràng:

          -          Đi ngoài phân có máu: Là triệu chứng thường gặp nhất, có giá trị gợi ý chẩn đoán polyp đại trực tràng. Có thể thấy máu tươi thành vệt hay loang ra trên khuôn phân; hoặc phân lẫn nhày máu màu nâu, đen hoặc lờ lờ máu cá. Triệu chứng càng có giá trị khi phân mềm hoặc nhão mà có máu kèm theo. Chảy máu có thể ở nhiều mức độ khác nhau nhưng thường nhẹ và vừa, tuy vậy cũng có trường hợp chảy máu nặng gây mất máu nghiêm trọng.

          -          Đại tiện phân lỏng: Đối với những polyp nằm ở đoạn trực tràng thấp gần hậu môn, nhất là khi polyp to hoặc polyp bị loét có thể gây ra những triệu chứng ruột bị kích thích như: đi ngoài ngày nhiều lần, có khi xuất hiện đau quặn, mót rặn nên có thể chẩn đoán nhầm với hội chứng lỵ.

          -          Đau bụng: Cũng thường gặp trong polyp đại trực tràng, có trường hợp polyp quá lớn gây ra triệu chứng bán tắc ruột hoặc tắc hoàn toàn, khi đó biểu hiện rất điển hình của cơn đau do tắc ruột: ngoài đau bụng còn kèm theo nôn và bí trung đại tiện.

Cần lưu ý là có nhiều trường hợp bệnh nhân hoàn toàn không thấy triệu chứng nhưng vẫn có thể có polyp ở đại trực tràng. Vì vậy cần phải hết sức chú ý những trường hợp bệnh nhân trước đây đã từng mắc polyp hoặc trong gia đình có người mắc polyp.

4. Xét nghiệm và chẩn đoán

          -          Thăm trực tràng: Bác sĩ sẽ luồn một ngón tay có đeo găng qua hậu môn vào trực tràng để kiểm tra khối u bất thường trong trực tràng.

          -          Xét nghiệm phát hiện máu trong phân.

          -          Soi đại tràng sigma ống mềm. Thủ thuật này chỉ kiểm tra được khoảng 0,5m cuối cùng của đại tràng, thường được kết hợp với thụt bari để quan sát tốt hơn toàn bộ đại tràng.

          -          Chụp đại tràng có thuốc cản quang: Bệnh nhân sẽ được thụt bằng bari và sau đó được chụp X quang. Bari sẽ tạo thành một lớp cản quang bám trên niêm mạc đại tràng và giúp quan sát rõ hình ảnh của đại tràng trên phim X quang.

          -          Soi đại tràng: ngoài quan sát toàn bộ đại tràng và trực tràng, thủ thuật này còn cho phép cắt bỏ ngay polyp hoặc tiến hành sinh thiết.

          -          Xét nghiệm gen: thường được chỉ định cho người có tiền sử gia đình bị ung thư đại trực tràng để xác định những gen gây nguy cơ ung thư.

          -          Viên camera: Bệnh nhân sẽ được nuốt một camera nhỏ xíu có hình dạng giống như một viên thuốc con nhộng. Camera sẽ di chuyển và truyền hình ảnh thu được ở ống tiêu hóa ra ngoài.

          -          Một số xét nghiệm mới như soi đại tràng ảo (soi đại tràng CT) và xét nghiệm phân tìm ADN từ những tế bào bất thường.

5. Điều trị

            Khi có bất kỳ các biểu hiện như: có máu trong phân, thay đổi thói quen đại tiện kéo dài trên 1 tuần hoặc đau bụng với những đặc điểm nêu trên bạn cần đi khám ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

            Hiện nay, phương pháp nội soi ống mềm đại trực tràng được ứng dụng rộng rãi, là biện pháp tốt để phát hiện sớm và loại bỏ các polyp, góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ ung thư hóa. Ở nước ta hầu hết các bệnh viện tuyến trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đã thực hiện được thủ thuật này. Trong trường hợp có nhiều polyp hoặc polyp gây biến chứng có thể được chỉ định phẫu thuật.

6. Phòng ngừa

            Để phòng ngừa polyp đại trực tràng bạn nên ăn nhiều hơn các loại rau, quả và ngũ cốc, giảm lượng chất béo trong khẩu phần; không hút thuốc và hạn chế uống rượu; tăng cường luyện tập thể lực, giữ cân nặng ở mức hợp lý. Một số liệu pháp đã được chứng minh có thể làm giảm nguy cơ mắc polyp cũng như giảm tỷ lệ polyp tiến triển thành ung thư: liệu pháp hormon, thuốc aspirin, canxi, axít folic và vitamin B6; tuy nhiên khi dùng các thuốc này cần phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.