Khi còn là bào thai trong cơ thể của người mẹ thì rốn là con đường nuôi dưỡng trực tiếp từ người mẹ sang con, các thầy thuốc Sản khoa có lẽ là những người đã thực sự lo lắng nhiều nhất cho sự an toàn của dây rồn cho đến khi đã kẹp và cắt xong cuốn rống...Tuy nhiên những vấn đề ngoại khoa và nhi khoa có liên quan đến rốn sẽ vẫn còn tiếp diễn sau đó cho đến khi trẻ đã đạt đến những độ tuổi lớn hơn.

1. Bệnh Omphalocele

Do chưa được thống nhất về mặt bệnh học nên bệnh thường được gọi bằng nhiều tên tiếng Việt khác nhau như:

          -          Thoát vị cuống rốn

          -          Thoát vị rốn khổng lồ

          -          Lộ tạng rốn

          -          Tồn tại thoát vị rốn thời bào thai...

Tuy nhiên dù gọi bằng tên nào đi nữa thì đều phải chua tên gốc của bệnh là omphalocele vào. Bệnh xuất hiện từ thời kỳ bào thai, theo nhiều tác giả thì từ tuần lễ thứ 10 của thai kỳ là đã có thể phát hiện được bệnh trên siêu âm bào thai. Ở Việt Nam trước đây bệnh thường được phát hiện sau sinh dưới dạng một khối có thể tích lớn hoặc vừa nằm ngay trung tâm của vùng rốn, thiếu da bao phủ chung quanh. Chính diện tích của khối phình nầy đã quyết định cho phương pháp điều trị được áp dụng trên bệnh nhi. Trước đây tỷ lệ tử vong là khá cao đối với những thể omphalocele có đường kính lớn.Từ khi có sự tiến bộ trong lĩnh vực gây mê hồi sức sơ sinh, trong phẫu thuật cũng như trong việc phát minh và chế tạo ra các vật liệu thay thế thì tiên lượng bệnh đã được cải thiện nhiều.

2. Bệnh Gastroschisis

Đây là bệnh sổ tạng bẩm sinh hay còn được một số tác giả gọi là phòi ruột bẩm sinh Bệnh cũng xuất hiện sau sinh trước đây, còn hiện nay siêu âm bào thai cũng giúp người ta phát hiện bệnh từ tuần lể thứ 10 của thai kỳ. Ruột phòi ra ngoài thành bụng qua một lổ khuyết ở bên phải của rốn, khác với omphalocele là ở ngay trung tâm của rốn, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao nhất là những trường hợp nhập viện muộn.

3. Bệnh thoát vị rốn (Ombilical hernia)

Một số tác giả còn gọi bằng một tên khác là bệnh rốn lồi, nguyên nhân là do dãn rộng vòng đai rốn.  Bệnh thường gặp trên những cơ địa có sự gia tăng áp lực ổ bụng vì một bệnh lý nào đó như táo bón mãn tính, rặn tiểu nhiều do hẹp bao quy đầu, hội chứng lỵ...Sự phân bố của bệnh là đồng đều giữa nam và nữ, biến chứng nghẹt tuy ít khi xảy ra nhưng không phải là không có. Một băng ép vùng rốn thường chỉ có tác dụng làm yên lòng bố mẹ hơn là tỏ ra hiệu quả. Phục hồi vòng đai rốn bằng phẫu thuật thường rất đơn giản, nhưng vấn đề quan trọng là cần phải giải quyết các nguyên nhân gây tăng áp lực ổ bụng nếu không muốn bệnh nhi sẽ xuất hiện tiếp những dạng bệnh khác phức tạp hơn.

4. Dò rốn (Ombilical Fistula)

Thường trên lâm sàng có hai dạng dò rốn thường gặp là:

          -          Dò dịch ruột ở rốn: Đây là bệnh lý tồn tại ống rốn tràng, trong vài trường hợp đường dò cắm vào hồi tràng qua trung gian của một túi thừa Meckel, còn phần lớn là cắm trực tiếp vào ruột non, chẩn đoán dựa vào chụp cản quang đường dò (fistulography), thuốc cản quang sẽ vào ruột non. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ đường dò và túi thừa Meckel nếu có, trong nhiều trường hợp phải cắt nối ruột.

          -          Dò nước tiểu ở rốn: Do bệnh lý tồn tại ống rốn - bàng quang (urachus). Bệnh lý nầy thường có kèm theo một nguyên nhân nào đó của tiểu khó của trẻ em như hẹp cổ bàng quang,van bẩm sinh niệu đạo sau...làm tăng áp lực bàng quang, dẫn đến sự thông thương trở lại của ống rốn - bàng quang. Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm dịch nước tiểu ở rốn, bơm dung dịch xanh methylene vào bàng quang hoặc chụp cản quang đường dò, phẫu thuật thắt dò thường đơn giản nhưng phải cần giải quyết nguyên nhân cản trở đi tiểu như đã nói trên.

5. Polype rốn 

Nguyên nhân chính là do nhiễm trùng rốn kéo dài, các mô hạt bị kích thích lâu ngày mà tạo thành...Chẩn đoán thường đơn giản, xử trí chủ yếu là cắt bỏ polype và nạo bỏ tổ chức hạt.

6. Viêm tắc tĩnh mạch rốn

Một trong những biến chứng nặng của nhiễm trùng rốn, thường gặp ở những trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng rốn mà không được điều điều trị, tổn thương tắc tĩnh mạch rốn thường lan vào tĩnh mạch cửa gây viêm tắc và hẹp tĩnh mạch cửa về sau. Đây là nguyên nhân chính gây nên hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa trước gan ở trẻ em.

7. Các loại nang dưới rốn

Thường là loại nang ruột dưới rốn hoặc nang niệu rốn, ngày nay chẩn đoán các loại nang nầy đã đơn giản rất nhiều nhờ vai trò của siêu âm chẩn đoán, điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ nang.

8. Kết luận

Đứng trước bất cứ một thương tổn nào của vùng rốn đều cần phải làm rõ chẩn đoán nguyên nhân vì trong nhiều trường hợp những thương tổn tuy nhỏ nầy nếu không phát hiện và điều trị sẽ gây ra những hậu qủa xấu về sau.