1. Định nghĩa

Loét dạ dày là tổn thương mất lớp niêm mạc ăn sâu qua lớp cơ niêm, hạ niêm mạc hoặc xuống tận lớp cơ thành dạ dày.

Hang vị: Là từ dùng để chỉ phần nằm ngang của dạ dày, từ góc của bờ cong  nhỏ tới lỗ môn vị (theo thứ tự từ trên xuống dưới dạ dày chia thành phình vị, thân vị, hang vị và lỗ môn vị, dạ dày có 2 bờ là bờ cong lớn và bờ cong nhỏ) viêm  hang vị là 1 tên gọi riêng của bệnh viêm dạ dày - tá tràng. 

2. Nguyên nhân

            - Do dùng thuốc aspirin, thuốc chữa khớp.

            - Do vi khuẩn Helicobacter pylori và do tình trạng tăng tiết acid.

            - Do căng thắng kéo dài, stress.

            - Do uống quá nhiều rượu.

            - Do hóa chất…

3. Triệu chứng

            - Cơn đau loét: là triệu chứng điển hình của bệnh loét dạ dày tá tràng với các đặc điểm Đau thượng vị (vùng trên rốn và dưới mỏm xương ức), Đau có chu kỳ theo bữa ăn và theo mùa, Đau xuất hiện hoặc tăng khi ăn các thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh và giảm khi uống các thuốc kháng axit hay thuốc băng niêm mạc dạ dày.

            - Các triệu chứng không điển hình như đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa… rất khó phân biệt là do loét hay do một bệnh khác của dạ dày như viêm dạ dày, ung thư dạ dày, hay chứng loạn tiêu hóa không do loét.

            - Các trường hợp loét câm thường chỉ được chẩn đoán khi xảy ra biến chứng.

            - Bệnh thường hay tái phá Trước đây, sau khi được chữa lành, có 60 – 80% tái phát trong vòng 2 năm. Từ thập niên 80, khi xác định được vai trò gây bệnh của vi khuẩn H. Pylori, việc điều trị tiệt trừ H. Pylori đã làm giảm tỉ lệ tái phát còn khoảng 10%.

4. Các biến chứng của bệnh loét dạ dày tá tràng

            - Xuất huyết tiêu hóa (chảy máu đường tiêu hóa): xuất huyết hay chảy máu thường rầm rộ với ói ra máu, có hoặc không có đi tiêu phân đen. Bệnh nhân cần được nhập viện ngay để điều trị cấp cứu.

            - Thủng dạ dày tá tràng: xuất hiện cơn đau bụng đột ngột , dữ dội vùng thượng vị như dao đâm, thường có nôn ói và bụng cứng như gỗ. Biến chứng này phải được mổ cấp cứu, nếu không bệnh nhân sẽ tử vong.

            - Hẹp môn vị: lúc đầu ăn chậm tiêu, đầy bụng, nặng bụng, ợ nước chua nhất là về buổi chiều; tiếp theo bệnh nhân bị nôn ói sau ăn  ngày càng thường hơn. Bệnh nhân thường gầy sút do bị nôn ói. Biến chứng này phải được điều trị bằng phẫu thuật. 

            - Hóa ung thư: ngày nay người ta thấy có chứng cứ nhiễm H. Pylori gây viêm loét dạ dày lâu dài có thể dẫn đến ung thư dạ dày.

5. Điều trị loét dạ dày tá tràng

            Hiện nay việc điều trị loét dạ dày tá tràng có thể phân ra hai nhóm chính: nhóm bệnh loét dạ dày tá tràng do nhiễm H. Pylori và nhóm không do nhiễm H. Pylori. Nhóm sau thường do dùng các thuốc  kháng viêm, thuốc trị đau nhức, do stress, do bệnh gan mạn tính.

a. Đối với nhóm loét dạ dày tá tràng do nhiễm H.Pylori:

Việc điều trị chủ yếu là dùng các phác đồ điều trị tiệt trừ H. Pylori. Các phác đồ 3 thuốc gồm một thuốc chống loét; ức chế thụ thể H2 của Histamine, ức chế bơm proton; kết hợp với hai kháng sinh. Các phác đồ 4 thuốc gồm 2 thuốc chống loét kết hợp với 2 kháng sinh thường dùng trong trường hợp thất bại với phác đồ 3 thuốc.

Các phác đồ điều trị thường có các tác dụng phụ như chua miệng, đắng miệng, nhức đầu, buồn ói và ói. Người bệnh cần cố gắng chịu đựng để uống đủ liều điều trị vì nếu bỏ dỡ điều trị sẽ làm tăng nguy cơ kháng thuốc về sau.

b. Đối với nhóm loét dạ dày tá tràng không do nhiễm H. Pylori:

Việc điều trị gồm: Ngưng các thuốc gây loét, điều trị với các thuốc chống loét. Trường hợp phải điều trị lâu dài các bệnh mạn tính với các thuốc có thể gây loét thì nên điều trị kết hợp với thuốc chống loét. Trường hợp bệnh nhân đã bị loét nếu cần phải điều trị với các thuốc có thể gây loét thì bắt buộc phải điều trị kèm với các thuốc chống loét.

6. Các xét nghiệm chẩn đoán

6.1 Xét nghiệm nội soi dạ dày qua đường miệng

            - Cách thường dùng nhất của nội soi dạ dày qua miệng là CLO test, phương pháp này được dùng rất phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới vì rẻ tiền. Cách đọc kết quả đơn giản, chỉ xem sự đổi màu của mẫu thử từ vàng sang hồng là dương tính. Bệnh nhân có thể nhận kết quả chỉ trong 1-3 giờ.

            - Một xét nghiệm khác gọi là giải phẫu bệnh, tức lấy mẫu nhỏ của dạ dày, nhuộm màu rồi xem dưới kính hiển vi xem có vi khuẩn hiện diện không.

            - Ưu điểm chung của các phương pháp cần phải nội soi là ngoài việc chẩn đoán được nhiễm H.Pylori còn có thể chẩn đoán được chính xác các bệnh lý ở thực quản dạ dày và tá tràng (đoạn đầu ruột).

6.2 Xét nghiệm không cần nội soi

            - Bằng cách kiểm tra hơi thở, các bác sĩ dùng nguyên tắc phân tích luồng khí thở của người bệnh trước và sau khi uống viên thuốc thử để phát hiện một loại men do vi khuẩn H.Pylori tiết ra, từ đó cho biết kết quả dương hay âm tính. Test này có đặc điểm là đắt tiền.

            - Xét nghiệm máu tìm kháng thể là cách thứ hai của phương pháp chẩn đoán không thông qua nội soi. Xét nghiệm này không phát hiện trực tiếp vi khuẩn mà gián tiếp tìm một chất gọi là "kháng thể" tương ứng với vi khuẩn H.Pylori. Xét nghiệm này chỉ chẩn đoán nhiễm H.pylori trước khi điều trị, sau điều trị không thể dùng xét nghiệm này để biết hết nhiễm hay chưa.

            - Ưu điểm chung của các phương pháp không cần nội soi giúp bệnh nhân tránh cảm giác lo sợ. Nhược điểm là chỉ chẩn đoán nhiễm H.Pylori hay không chứ không chẩn đoán được các bệnh lý của thực quản dạ dày tá tràng.

6.3 Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm H.pylori sâu hơn ("bắt bài" vi khuẩn)

            - Nuôi cấy vi khuẩn tìm sự nhạy và kháng với kháng sinh của vi khuẩn. Nuôi cấy không đơn giản như vi khuẩn thông thường. Sau khi lấy mẫu ra khỏi dạ dày, cần phải đưa vào môi trường đặc biệt để bảo quản ngay nhằm bảo đảm vi khuẩn vẫn tồn tại trong mẫu thử rồi ủ và cấy theo biện pháp riêng vì vi khuẩn H.pylori kỵ khí (tức cần môi trường thiếu oxy, nếu đầy đủ oxy như khí trời thì vi khuẩn bị ức chế không mọc được).

            - Tại TP HCM, từ trước đến nay các bác sĩ rất ít nuôi cấy vi khuẩn vì kỹ thuật khó, chưa có môi trường bảo quản thích hợp, vi khuẩn không mọc như vừa mô tả. Hiện một số bệnh viện tại TP HCM như Chợ Rẫy, Nguyễn Tri Phương đã thực hiện nuôi cấy làm kháng sinh đồ cho vi khuẩn H.Pylori.

6.4 Xác định chủng độc lực của vi khuẩn

            - Khi mới được khám phá, y học chỉ biết H.pylori gây viêm loét dạ dày, có nguy cơ gây ung thư dạ dày. Với tiến bộ của kỹ thuật gene, trên thế giới đã phân tích ra được độc lực của H.Pylori để phát hiện ra các chủng tiết độc tố mạnh làm viêm loét dạ dày tá tràng nặng nề và tăng nguy cơ ung thư dạ dày.

            - Những vi khuẩn nào có đầy đủ các độc tố này sẽ có độc lực cao nhất (chủng "hung dữ"). Vi khuẩn không có tất cả các yếu tố này thì độc lực rất kém (chủng "hiền lành"). Đây là bước tiến mới trong việc nghiên cứu cơ chế gây bệnh của vi khuẩn H.Pylori.

            - Về điều trị, thuốc chính để điều trị lành bệnh viêm loét dạ dày là thuốc làm giảm tiết axit của dạ dày. Thuốc này sau khi hấp thu, được hệ thống men trong cơ thể chúng ta (có tên CYP2C19) biến đổi và đào thải ra khỏi cơ thể.

            - Gần đây, người ta phát hiện hệ thống men CYP2C19 ở mỗi người có mức độ hoạt động mạnh yếu khác nhau là do di truyền. Hê thống men này nếu hoạt động mạnh sẽ đào thải thuốc khá nhanh nên hiệu quả điều trị sẽ không cao.

6.5 Xét nghiệm 4 trong 1

            - Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, với một mẫu nhỏ niêm mạc dạ dày thu thập được trong khi nội soi dạ dày, các bác sĩ làm cùng một lúc 4 việc là tìm vi khuẩn H.Pylori như thông thường (Clotest),  nuôi cấy vi khuẩn H.Pylori tìm độ nhạy với kháng sinh,  xác định xem chủng độc lực của vi khuẩn H.Pylori. Biết được bệnh nhân có hệ thống men CYP2C19 đào thải thuốc trị loét dạ dày thuộc dạng mạnh yếu hay trung bình.

            - Phương pháp này hữu ích cho bệnh nhân bị viêm loét dạ dày do vi trùng H.Pylori nhưng thất bại sau một đợt điều trị thông thường, xét nghiệm sẽ xác định sự kháng thuốc của vi khuẩn nhằm có phác đồ điều trị thích hợp hơn. Bác sĩ cũng biết được chủng độc lực của vi khuẩn nhằm có chế độ theo dõi, điều trị và kiểm tra nội soi định kỳ thích hợp. Bệnh nhân cũng sẽ biết thuốc điều trị bị đào thải nhiều, ít hay trung bình nhằm điều chỉnh liều lượng thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị của phác đồ diệt vi khuẩn.

            - Phương pháp này còn giúp bệnh nhân viêm loét dạ dày thông thường không phải do vi trùng H.Pylori nhưng điều trị lâu lành, dai dẳng kéo dài.  Sau xét nghiệm, người bệnh biết được thuốc điều trị viêm loét dạ dày có bị đào thải như thế nào (nhiều, ít, hay trung bình) và điều chỉnh liều lượng thuốc thích hợp.

            - Một số trường hợp viêm loét dạ dày tái đi tái lại đã được xét nghiệm thông thường nhiều lần vẫn không tìm thấy vi khuẩn H.pylori, với phương pháp nuôi cấy và định chủng vi khuẩn có thể phát hiện ra vi khuẩn thật sự tồn tại trong dạ dày bệnh nhân. Từ đó có cách điều trị thích hợp.

7. Phòng bệnh

            - Ăn uống điều độ: Cần ăn uống đúng giờ giấc, tránh ăn quá no hoặc quá ít cho dạ dày không bao giờ quá tải, làm lượng dịch vị luôn trung hòa, giảm sự kích thích của dịch vị với chỗ loét.

            - Không ăn đồ cay và uống rượu: Ớt và rượu kích thích mạnh tới chỗ loét và niêm mạc thành dạ dày, làm tăng nồng độ dịch vị.

            - Kiêng ăn mỡ béo: Khó tiêu hóa, thời gian lưu đọng trong dạ dày bị kéo dài, tăng thêm "gánh nặng" cho dạ dày, nên ăn những thức ăn thanh đạm, ít bã, dễ nhai và tiêu hóa...

            - Không ăn đồ ăn sống, đồ ăn lạnh: Đồ ăn sống, lạnh hoặc quá nhiệt khó tiêu hóa và hấp thụ, làm dịch vụ bài tiết quá mức cần thiết, tổn thương trực tiếp đến chỗ loét, huyết quản căng, dễ xuất huyết dạ dày.

            - Tránh quá căng thẳng, mệt mỏi tinh thần: Nếu tính thần quá căng thẳng hoặc mệt mỏi sẽ làm rối loạn chức năng tiêu hóa. 

8. Chế độ ăn trong viêm loét dạ dày, tá tràng

             Chế độ ăn trong bệnh dạ dày nhằm mục đích làm giảm tiết acid, giảm tác dụng của acid dạ dày tiết ra lên niêm mạc dạ dày, hạn chế hoặc loại bỏ những kích thích có hại để dạ dày nghỉ ngơi và các tổn thương mau lành.

            Trong dinh dưỡng bình thường thì khối lượng thức ăn, sự nhai nghiền thức ăn thành mảnh bé trước khi nuốt vào dạ dày là rất quan trọng cho quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn ở ruột non.

Muốn tiêu hóa, hấp thu thức ăn có hiệu quả cần lưu ý:

- Nấu chín, ninh nhừ thức ăn, không nên dùng thực phẩm ăn sống.

- Nhai kỹ, ăn chậm.

- Không ăn quá no một lúc mà chia thành nhiều bữa (4-5 bữa), ăn nhiều bữa để thường xuyên có tác dụng trung hòa acid, mỗi bữa nên ăn nhẹ để khỏi gây căng dạ dày vì căng dạ dày dễ kích thích tiết nhiều acid.

- Không nên ăn quá nhiều canh dùng với bữa cơm.

- Ăn xong không nên lao động nặng, chạy nhảy ngay.

Những thức ăn nên dùng:

- Cơm nhão, cháo, bánh mỳ, bánh quy, thịt cá nghiền nát, hấp hoặc om, trứng, các loại thực phẩm có tính bao bọc niêm mạc dạ dày như gạo nếp, bột sắn, bánh mỳ…

- Trứng, bơ, phomat có tác dụng đệm trung hòa acid trong dạ dày.

- Thực phẩm giàu đạm (thịt, cá nạc nên chế biến luộc, hấp, om thì dễ hấp thu).

- Rau củ dùng rau non luộc hoặc nấu dạng súp, các loại rau củ phải ăn chín.

- Dầu ăn sống có tác dụng làm giảm bài tiết dịch vị (với số lượng ít).
            - Nhân dừa non (mềm như thạch) chứa nhiều enzym tốt cho tiêu hóa, dùng chữa các bệnh viêm loét dạ dày. Do vậy bệnh nhân vẫn có thể sử dụng được cả nước cốt, nước dừa tươi.

Những thức ăn không nên dùng:

- Những thức ăn nhiều mùi vị, chất thơm như thịt quay, rán, nướng, thịt ướp muối, cá ướp muối và những thức ăn xào rán nhiều dầu mỡ.

- Các loại thịt nguội chế biến sẵn: Dăm bông, lạp xường, xúc xích và các loại nước sốt, nước thịt cá đậm đặc.

- Sữa, sữa chua.

- Những thức ăn cứng, dai gây cọ sát niêm mạc dạ dày như: Thịt nhiều gân, sụn, rau có nhiều xơ già, quả sống…

- Gia vị, dấm tỏi, tiêu ớt, dưa cà, hành muối.

- Quả chua, đu đủ chín, chuối tiêu, táo.

- Chè, cà phê đặc, bỏ hẳn rượu, thuốc lá.

- Không nên ăn những thức ăn sống, lạnh.

Phải giữ một tinh thần luôn vui vẻ, gây dựng thói quen tốt trong sinh hoạt, không nên làm việc quá mệt mỏi, căng thẳng

9. Món ăn điều trị dạ dày

            a. Nếu đau dạ dày quanh năm hãy lấy 3 – 4 quả đu đủ  xanh tươi rửa sạch rồi ép lấy nước chia làm 3 lần uống; ăn khoảng mấy chục quả đu đủ thì bệnh đau dạ dày sẽ thuyên giảm .

            b. Rượu vang nho đựng trong bình miệng rộng rồi cho rau thơm đã rửa sạch vào (tỷ lệ 1:1), đóng kín miệng bình lại trong 6 ngày sau đó lấy ra uống mỗi buổi uống 1 cốc vào các buổi sáng, trưa, tối, uống liền trong 3 tháng, bệnh đau dạ dày sẽ khỏi; rau thơm vẫn còn màu xanh thì ăn vào lại càng tốt.

            c. Mật ong 0,5kg đun bằng lửa nhỏ, vừa đun vừa khuấy cho đến khi hơi có bọt mật ong có màu vàng sậm, rắc 1,5 lạng bột mì vào khuấy đều, rồi lại cho tiếp 2 lạng bột soda cho tới khi tan bọt là được, tiếp đó đổ vào đồ đựng bằng sứ hoặc thuỷ tinh; mỗi lần 1 thìa uống trước lúc ăn cơm 20 phút; cách này chữa viêm dạ dày mãn tính và loét dạ dày.

            d. Tim lợn thái miếng mỏng 3 – 4 mm, rắc đều bột tiêu trắng lên trên (20 – 30 hạt), hấp chín; ăn món này vào buổi sáng lúc bụng đói, mỗi ngày 1 quả tim lợn, nói chung 7 ngày sẽ khỏi, cách này chữa viêm dạ dày.

            e. Táo đỏ rửa sạch rồi rang cho đến khi vỏ ngoài có màu đen, không cháy là được, lấy 3, 4 quả pha vào nước sôi để uống, nếu cần hãy cho một lượng đường vừa phải.

            f. Những người bị mắc bệnh dạ dày dạng ít dịch vị chua nếu thường xuyên ăn dấm sẽ làm tăng cảm giác thèm  ăn và chữa được bệnh dạ dày.

            g. Khoai tây gọt bỏ vỏ, ép lấy nước, đun sôi lên để lấy nước uống, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa nhỏ, uống liên tục 2 – 3 tuần sẽ trợ giúp chữa trị loét dạ dày và hành tá tràng.

            h. Thịt gà 150g, ức cánh gà 30g, gừng tươi 2 lát, táo đỏ 2 quả, cho thêm nước vào rồi đun lên để ăn; món này chữa loét dạ dày và hành tá tràng; đồng thời có tác dụng tốt trong chữa trị đau chướng dạ dày do vị khí hư nhược, dịch vị quá nhiều gây ra.

            i. Đậu phụ 500g, đường đỏ 125g rồi cho nước vào đun sôi, chia ra làm nhiều lần để uống; cách này chữa xuất huyết dạ dày.

            j. Vỏ trứng gà 10 cái rang vàng bằng lửa nhỏ trong nồi sắt nhưng không được rang cháy; sau đó nghiền thành bột, mỗi ngày uống khoảng 1/10 (tức là tương đương với 1 cái vỏ trứng), chia làm 2 – 3 lần uống hết, uống trước khi ăn cơm hoặc sau khi ăn cơm bằng nước ấm; uống liên tục nhiều ngày sẽ trị được loét hành tá tràng.

            k. Lấy lòng lợn hoặc trứng gà hầm với lạc thành món ăn sẽ chữa được loét dạ dày.

            l. Hàng ngày uống Vitamin E 3 lần, mỗi lần 100mg, , uống liên tục 2 – 3 tuần sẽ có hiệu quả chữa trị đối với loét dạ dày.

            m. Chữa bằng hoa chuối:
              + Cách 1: Hoa chuối, hoa trà ký sinh trên cây tiêu mỗi thứ 15g, sắc với một lượng nước vừa đủ trong khoảng 10 phút rồi lọc lấy nước uống.

              + Cách 2: Nấu cháo hoa chuối với gạo tẻ ăn trong ngày. Với các cách này, nên thực hiện liên tục 10 ngày/liệu trình cho đến khi khỏi bệnh.

10. Một số loại thực phẩm giúp chống lại cơn đau dạ dày

Gừng: Thường được sử dụng làm gia vị chữa bệnh, có tác dụng cải thiện hệ tiêu hóa bằng cách kích thích việc tiết enzyme tiêu hóa.

Cây thì là: Thì là chứa nhiều anethole, chất có tác dụng kích thích việc tiết dịch vị và dịch tiêu hóa. Thì là cũng là nguồn phong phú a-xít aspartic, giúp chống đầy hơi. Đó là lý do vì sao nhiều người có thói quen nhai hạt thì là sau bữa ăn.

Cây bạc hà: Bạc hà được dùng điều trị chứng khó tiêu, cơn đau bụng, chứng ợ nóng và đầy hơi. Bạc hà cũng có tác dụng kích thích sự ngon miệng, điều trị cơn buồn nôn và chứng đau đầu. Trà bạc hà cay có thể giúp giảm đau họng.

11. Người bệnh hỏi Bác Sĩ trả lời

Câu 1: Sau khi ăn sang uống nước cam có tốt không?

Cam là loại quả thường dùng vắt lấy nước để uống, nó có chứa đường, a-xít hữu cơ, tinh dầu gồm isoamylic, geraniol, teryrineol… Cam có vị ngọt, chua, tính mật, có tác dụng giải khát, sinh tân dịch, mật phổi, tiêu đờm và lợi tiểu. Là nước giải khát bổ dưỡng rất tốt, nhưng không phải ai cũng nên dùng và càng không thể thích uống lúc nào cũng được. Nếu đang bị viêm loét dạ dày, tá tràng, hay viêm tuyến tụy thì không nên uống nước cam, vì nó chứa rất nhiều chất hữu cơ làm tăng a-xít trong dạ dày, gây ra chứng ợ nóng và làm chứng viêm loét nặng thêm; và nước cam có tác dụng nhuận tràng nên nếu bạn bị tiêu chảy thì nên pha loãng chúng với nước và uống từng chút một thôi.

Khi vừa ăn sáng xong mà uống ngay một cốc nước cam không có lợi. Vì, trong nước cam có hàm lượng đường cao, nếu uống ngay sau khi ăn sáng làm cho đường lên men, gây sình hơi, tức bụng rất khó chịu. Cũng không nên uống nước cam vào buổi tối, do nước cam có tác dụng sinh tân dịch và lợi tiểu, dễ gây đi tiểu đêm làm mất ngủ. Nước cam tốt nhất nên uống vào lúc không no, không đói - tức sau khi ăn 1 - 2 giờ.

Câu 2: Nghệ đen dùng với mật ong trị dạ dày tốt hơn nghệ vàng phải không?

Nghệ vàng có tác dụng chống loét dạ dày, giảm tiết dịch vị và nhờ tinh dầu nghệ có tính kiềm nên giúp làm giảm độ acid của dịch vị, nghệ vàng còn có tác dụng chống viêm và làm lành vết loét nên dân gian hay dùng chung với mật ong để chữa loét dạ dày do thừa dịch vị. Mật ong cũng có tác dụng làm êm dịu tránh kích ứng ở dạ dày.

Nghệ đen có tác dụng phá ứ tiêu tích mạnh nên không được dùng cho phụ nữ có thai, dùng nghệ đen chữa bế kinh, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, ăn uống khó tiêu, đầy bụng, nôn mửa.

Câu 3: Cây nha đam có chữa được bệnh dạ dày? Nếu có thì nên sử dụng ra sao?

Nhựa từ lô hội (nha đam) có tác dụng kích thích tiêu hóa, nhuận tràng, tẩy xổ, dùng chữa chứng táo bón, nó còn giúp ức chế men pepsin và acid hydrochloric không cho tiết ra nhiều gây viêm loét dạ dày. Mỗi ngày dùng khoảng 10 g lá tươi, gọt vỏ, lấy lớp nhựa trong đun sôi trong nước rồi uống.

Câu 4: Nước ép bắp cải có chữa dạ dày được không? Uống 1/2 cốc nước bắp cải ép vào mỗi sáng sớm và trước khi đi ngủ, bệnh sẽ giảm rõ rệt, đúng không? 

Đúng, vì trong bắp cải có chứa vitamin U (ulcer) có tác dụng chống loét dạ dày. 

Câu 5: Dùng nước mía, rượu nho mỗi thứ một ly, trộn đều, uống ngày hai lần vào buổi sáng và tối để chữa đau dạ dày, có đúng không?

Không, vì rượu không thích hợp cho người đau dạ dày, uống chung với nước mía nhiều đường càng dễ gây hiện tượng lên men gây no hơi sình bụng và không tốt cho dạ dày.

12. Bài thuốc đông y chữa bệnh đau dạ dày

Hương phụ , Mộc hương , Hoắc hương , Trần bì , Phật thủ , Tam tiên , Lai phụ tử , Bình lang phiến , Cam thảo . Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Với người tì hư thấp vượng, thêm Bạch truật, Phục linh; với người tì khí hư, thêm Đảng sâm; với người trung tiêu hư hàn, thêm Sa nhân, Thảo đậu khấu; với người huyết ứ ở vị, thêm Bồ hoàng, Linh chi; với người ǎn tạp, lưỡi chua, thì thêm Ngoã lǎng tử, người vị nhiệt, thêm Sinh thạch cao, Hoàng cầm; người ǎn uống vẫn bình thường, thì bỏ Tam tiên, Lai phục tử; người vô tâm hạ bĩ (tắc ở bụng trên) thì bỏ Binh lang phiến; người vị âm hư thì giảm các vị lý khí một cách thích đáng, thêm Thiên hoa phấn, Thốn đông.