1. Định nghĩa

Viêm tụy mạn tính là một bệnh lý do sự xơ hóa từ từ của nhu mô tụy, dẫn tới sự phá hủy ngày càng nặng nhu mô tụy dẫn tới hậu quả suy giảm hoặc mất chức năng tụy. Khi triệu chứng lâm sàng đã rõ ràng thì việc chẩn đoán tương đối dễ dàng, nhưng khi tụy mới tổn thương một phần thì chẩn đoán khá khó khăn.

2. Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến viêm tụy mạn tính, tùy theo phân loại viêm tụy mạn mà có những nhóm nguyên nhân gây bệnh khác nhau.

Viêm tụy mạn tiên phát: Các nguyên nhân thường gặp là:

Rối loạn chuyển hóa: Thiếu đạm thừa mỡ kéo dài; nhiễm độc rượu, chì, thủy ngân, phospho, coban... mạn tính. Viêm tụy mạn tiên phát có vôi hóa hay gặp ở nam (35 - 50 tuổi) có nghiện rượu. Viêm tụy mạn không vôi hóa, thường có tăng gammaglobulin. Viêm tụy mạn tự miễn với sự hiện diện những kháng thể kháng tụy.

Viêm tụy mạn tiên phát đặc biệt có tính di truyền gia đình. Bệnh nhầy nhớt tụy di truyền, hoặc chứng cường tuyến cận giáp, chứng tăng lipid máu nội sinh.

Viêm tụy mạn thứ phát:

Do tắc nghẽn ống tụy hoặc vùng bóng vater; thương tổn do chấn thương hoặc phẫu thuật; do một u chèn ép ống tụy; giãn các ống tụy và xơ hóa quanh các ống tụy.

Viêm tụy mạn thể đặc biệt:

Di truyền: Tuổi phát bệnh thường là dưới 15 tuổi, nam nhiều hơn nữ, bệnh xảy ra có thể do khuyết tật của nhiễm sắc thể mang tính trội.

Rối loạn chuyển hóa nội tiết: nhất là trong các trường hợp cường cận giáp lành hoặc ác tính.

3. Triệu chứng

Đau bụng: Đây là triệu chứng hay gặp với các tính chất đau thượng vị, lan sang phải hoặc trái, xuyên sau lưng; Đau lâm râm kéo dài, có lúc thành từng cơn; Đau sau ăn nhiều mỡ, uống rượu, làm việc nặng, cảm xúc; Giảm đau khi nằm nghiêng co, ngồi cúi, úp lưng...

Tiêu chảy nhiều lần trong ngày, lỏng, phân láng mỡ.

Toàn thân: Gầy đét, da khô, lông tóc thưa, dễ rụng, thiếu máu, phù nề, thường xuyên mệt mỏi, giảm trí nhớ.

Bên cạnh các biểu hiện bệnh trên lâm sàng, bệnh nhân cần làm các xét nghiệm để chẩn đoán như các men tụy amylaza và lipaza máu, bilirubin, phosphataza. Định lượng canxi, lipid và triglycerid huyết để phát hiện viêm tụy mạn trong cường giáp trạng và tăng lipid máu. Xét nghiệm nước tiểu tìm amylase, glucose, sắc tố mật. Xét nghiệm trực tiếp dịch tá tràng, dịch tụy trong các test secretin, test secretin-pancreozymin hoặc bữa ăn. Định lượng lactoferrin trong dịch tụy nếu tăng cao là có ý nghĩa chẩn đoán viêm tụy mạn. Có thể cần tiến hành chụp Xquang, siêu âm để đánh giá kích thước tụy tạng...

4. Biến chứng

Nếu không được điều trị, bệnh tiến triển nặng dần, các biến chứng thường xảy ra trong 10 năm đầu. Đáng chú ý là trong 10-15 năm sau (l/3 số ca) do sự phá hủy các tuyến có hiện tượng giảm và hết đau bụng. Nổi lên là các triệu chứng hấp thu kém và đái tháo đường thường gặp các biến chứng sau:

U nang: Do giãn các ống tụy hoặc các u nang tụy giả do sự hoại tử của tụy vào các vùng xung quanh.

Chảy máu tiêu hóa do sỏi tụy gây tổn thương các mạch máu lân cận hoặc do tăng áp lực gánh từng đoạn.

Vàng da ứ mật: Do u đầu tụy chèn ép ống mật chủ.

Đái tháo đường ở 1/3 trường hợp, 1/3 trường hợp khác rối loạn đường máu sau bữa ăn.

Hội chứng hấp thu kém: (phân mỡ 1/3 trường hợp).

Tràn dịch thanh mạc, phế mạc thường bên trái, màng bụng, màng tim (ít hơn): Do một u nang tụy giả rò vỡ vào, tràn dịch có hàm lượng amylase cao và có thể có máu.

            Ung thư hóa tụy ở khoảng 3% số viêm tụy mạn.

5. Điều trị

Điều trị nội khoa hết sức quan trọng. Chế độ ăn nhiều đạm, hydratcarbon, ít mỡ, chia thành nhiều bữa. Nếu đi phân mỡ nên ăn thay bằng dầu thực vật: dầu dừa hoặc một số biệt phẩm như dầu hoặc bột portugen, biosorbin, magarin... Nếu phân mỡ kèm theo sút cân, sử dụng các biệt phẩm chứa các enzym tụy với liều cao: Pancreatin, cotazyme, combizym, festal, pancroel..., có thể dùng thuốc giảm đau, thuốc điều trị các bệnh phối hợp như bệnh đường ruột, bệnh đái tháo đường, u nang tụy... khi cần.

Chỉ tiến hành điều trị ngoại khoa khi: Các cơ quan lân cận bị loét (dạ dày tá tràng, ứ đọng do sỏi mật, viêm đường mật); Khi không chẩn đoán chắc chắn là ung thư tụy; Khi có u nang giả biến chứng hoặc to dần; Đau bụng kéo dài, bệnh nhân không chịu nổi.

6. Chế độ ăn

-        Chế độ ăn giàu carbonhydrate it béo và chia nhỏ bữa ăn thành nhiều lần có thể ngăn không cho tình trạng của tụy tiến triển xấu đi. Nếu bệnh nhân cảm thấy rắc rối khi thực hiện chế độ ăn này, các enzyme tụy sẽ được cung cấp cho bệnh nhân dưới dạng thuốc viên để giúp tiêu hóa thức ăn.

-        Bệnh nhân được chẩn đoán viêm tụy mãn sẽ được đề nghị ngưng uống rượu hoàn toàn.

-        Nếu tụy không sản xuất đủ insulin để điều hòa lượng đường trong máu, có thể cần phải sử dụng đến insulin theo đường chích.

Với bệnh nhân Phẫu thuật

-        Nếu nguyên nhân của viêm tụy là do sỏi mật, có thể cần phải phẫu thuật đề cắt túi mật và lấy sỏi ra ngoài.

-        Không uống những chất có cồn

-        Chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ. Nếu cảm thấy đợt cấp sắp quay lại, tránh không ăn những thức ăn đặc trong vài ngày để tụy có thời gian lành lại.

-        Chế độ ăn có nhiều carbonhyrate và ít chất béo.

7. Phòng ngừa

Không uống rượu bia hoàn toàn là cách duy nhất để giảm nguy cơ bị những cơn viêm tụy mới, ngăn không cho tụy bị viêm nặng hơn và ngăn không cho biết chứng tiến triển có thể rất nặng hoặc thậm chí là gây nguy cơ tử vong.

8. Câu hỏi tham khảo

Mẹ tôi bị viêm tụy mạn tính, hiện đang điều trị có tiến triển tốt. Tôi nghe nói bệnh này có thể biến chứng thành ung thư nên rất lo lắng. Xin hỏi có cách nào phòng ngừa hay chữa trị hiệu quả?

Viêm tụy mạn tính là sự xơ hóa từ từ của nhu mô tụy, nhu mô tụy bị phá hủy ngày càng nặng dẫn tới hậu quả suy giảm hoặc mất chức năng tụy. Các biến chứng thường xảy ra trong 10 năm đầu. Đáng chú ý là trong 10-15 năm sau (l/3 số ca) do sự phá hủy các tuyến có hiện tượng giảm và hết đau bụng. Nổi lên là các triệu chứng hấp thu kém và đái tháo đường, thường gặp là các biến chứng sau: u nang tụy giả, chảy máu tiêu hóa, vàng da ứ mật, đái tháo đường, hội chứng kém hấp thu, tràn dịch thanh mạc, phế mạc và ung thư tụy khoảng 3% số mắc. Để điều trị bệnh có hiệu quả và phòng ngừa biến chứng, bên cạnh việc dùng thuốc bệnh nhân phải có chế độ ăn hợp lý, chia thành nhiều bữa, ăn đủ các thực phẩm giàu protein, hydratcarbon, nhưng ăn ít mỡ. Bệnh chỉ tiến hành điều trị ngoại khoa khi các cơ quan lân cận bị loét (dạ dày - tá tràng, ứ đọng do sỏi mật, viêm đường mật), có u nang giả biến chứng hoặc to dần, trong trường hợp có biến chứng ung thư cũng có thể có chỉ định phải phẫu thuật kết hợp với các biện pháp điều trị ung thư khác.
BS. Nguyễn Công Long