SỎI ĐƯỜNG MẬT

Sỏi mật theo thành phần có thể chia ra sỏi Cholesteron và sỏi Sắc tố mật, sỏi muối mật. 95% trường hợp viêm đường mật (nhiễm trùng đường mật) là do sỏi. 

1. Khái niệm

            Sỏi gan còn được gọi là sỏi đường mật trong gan vì sỏi nằm ở vi quản mật, tiểu quản mật hoặc ống gan phải hay ống gan trái. Sỏi trong gan là bệnh lý thường gặp và được xem là nặng trong các bệnh của hệ thống gan – mật.

2. Nguyên  nhân

Sỏi mật theo thành phần có thể chia ra sỏi Cholesteron, sỏi Sắc tố mật, và sỏi muối mật.

Sỏi Cholesteron thường do ăn nhiều mỡ động vật, nồng độ Cholesteron trong máu cao có quan hệ với sự hình thành sỏi. Cấu tạo chủ yếu bằng cholesterol – là một thành phần chuyển hóa của gan, là một thành phần của mỡ máu. Loại này có màu vàng sẫm, không cản quang. Loại sỏi này hình thành khi có sự rối loạn về nồng độ cholesterol, acid mật và lecithin. Có một số yếu tố thúc đẩy sự hình thành sỏi cholesterol đó là: tuổi, giới (nữ/ nam = 3/1), chủng tộc, yếu tố gia đình, béo phì, phụ nữ đẻ nhiều con, uống một số thuốc như thuốc hạ mỡ máu, thuốc ngừa thai, ăn uống quá nhiều năng lượng...

Sỏi sắc tố mật: Phần lớn do tế bào thượng bì rơi rụng trong viêm nhiễm đường mật, vi khuẩn, giun đũa hoặc trứng giun hình thành hạch tâm của sỏi, có hai loại đen và nâu:

Sỏi sắc tố đen: Màu đen hình dạng không đều, nó được thành lập khi nồng độ bilirubin không liên hợp trong mật gia tăng, đây là trường hợp của huyết tán và trong xơ gan.

Sỏi sắc tố nâu: Màu nâu hoặc vàng nhạt, đây là hậu quả của giun chui ống mật và nhiễm khuẩn đường mật.

Sỏi muối mật: Thường có màu đỏ, cũng dễ kết hợp với canci.

3. Triệu chứng

Sỏi túi mật: Đây là loại sỏi có thể có một thời gian dài yên lặng. Khi có biểu hiện lâm sàng, triệu chứng chủ yếu là cơn đau quặn gan, đau dữ dội vùng hạ sườn phải, lan ra sau lưng và lên vai phải, đôi khi đau lan sang cả vùng thượng vị làm dễ nhầm tưởng là đau dạ dày. Cơn đau quặn gan kéo dài trên 15 phút đến 3 - 4 giờ, nếu trên 6 giờ phải nghĩ đến có biến chứng.

Nếu có hiện tượng tắc nghẽn thì túi mật ngày càng to dần lên, khi sờ vào có thể thấy túi mật căng phồng, ấn vào bệnh nhân rất đau, nếu không xử trí kịp thời có thể đưa đến viêm túi mật cấp tính, sẽ sốt cao 39 – 40o C.

Sỏi đường mật: Đây là loại sỏi có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, đau thường là do sự di chuyển của sỏi túi mật và sỏi đường mật trong gan. Thông thường có 3 triệu chứng rất điển hình (gọi là tam chứng Charco) tuần tự xuất hiện:

Đầu tiên là cơn đau quặn gan với biểu hiện như trên

Sau đó xuất hiện sốt nóng và rét run.

Cuối cùng là vàng da, vàng mắt, phân bạc màu, đi tiểu nước tiểu sẫm màu.

4. Chẩn đoán

Ngoài dựa vào các triệu chứng cơ bản các bác sỹ cần làm các xét nghiệm chẩn đoán:

Xét nghiệm sinh hóa

Chẩn đoán hình ảnh:

Siêu âm

Chụp mật - tụy ngược dòng

Chụp mật xuyên gan qua da

Chụp điện toán cắt lớp

Chụp cộng hưởng từ

Siêu âm nội soi

5. Hướng điều trị

Điều trị tùy thuộc thành phần sỏi và mức độ trầm trọng của bệnh . Có nhiều cách điều trị sỏi mật: dùng thuốc, dùng sóng rung động, phẫu thuật, chế độ ăn. Chúng ta phải xem xét, nếu sỏi yên lặng không triệu chứng thì không điều trị, chỉ điều trị khi sỏi có triệu chứng. Tuy nhiên sỏi ống mật phải điều trị không cần có triệu chứng.

a. Thuốc uống điều trị sỏi mật

            Chủ yếu để đẩy lùi quá trình thành lập sỏi. Acid mật , thành phần quan trọng của mật , được sản xuất bởi gan để nhủ tương hóa cholesterol , làm cho nó dễ hòa tan hơn .

            Những sỏi thành phần chủ yếu là cholesterol thì thích hợp cho việc điều trị bằng thuốc , những sỏi này có rất ít hoặc không có calcium , vì vậy không thấy được trên phim X quang mà thấy được trên siêu âm. Điều kiện để dùng thuốc uống trị sỏi mật:

Sỏi không lớn hơn 10 mm

Thể tích của tất cả sỏi trong túi mật không lớn hơn 1/3 thể tích túi mật
Chức năng túi mật còn tốt

Ống dẫn mật không bị nghẹt

Bệnh nhân không đang dùng thuốc giảm mỡ, thuốc dạ dày

Nên uống thuốc vào buổi chiều , vì buổi tối gan thường sản xuất ra dịch mật làm thúc đẩy quá trình tạo sỏi. Bệnh nhân khi có đau bụng , sốt , ớn lạnh , nước tiểu sậm màu nên lập tức tìm gặp bác sĩ.

Điều trị sỏi mật bằng thuốc có thể kéo dài từ 3 tháng đến 2 năm , khả năng thành công 40đến 70%. Phụ nữ phải tránh có thai trong khi dùng thuốc.

b. Điều trị sỏi mật bằng cách bắn sỏi

Mục đích của phương pháp này là làm giảm kích thước của sỏi mà không cần can thiệp phẫu thuật. Kỹ thuật này thích hợp cho sỏi mật đơn độc hay sỏi kẹt trong ống mật mà không thể lấy ra bằng phương pháp nội soi.

Tuy nhiên phương pháp bắn sỏi còn có hạn chế, vì chỉ sử dụng cho một số bệnh nhân sau:

Sỏi đơn độc, không phải là sỏi canxi, nhỏ hơn 2 cm đường kính

Chức năng đông máu bình thường

Không có hiện tượng viêm túi mật hoặc tụy

Không dùng cho phụ nữ có thai

c. Điều trị sỏi mật bằng phẫu thuật

Sỏi túi mật to trên 1cm không có triệu chứng thì có thể không cần điều trị. Vì trong thực tế sỏi thường được phát hiện ngẫu nhiên và người mang sỏi đó đã chung sống với sỏi nhiều năm không triệu chứng. Và biến chứng của loại sỏi này thường nhẹ: viêm túi mật. Trường hợp đặc biệt, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có sỏi túi mật thì nên can thiệp phẫu thuật điều trị trước khi mang thai để phòng khi túi mật viêm đúng vào thời kỳ mang thai thì việc điều trị trở nên rất phức tạp.

Điều trị thuốc “tan sỏi” như nhiều hãng thuốc quảng cáo hầu như không có tác dụng.

Sỏi nhỏ 2-3mm nguy hiểm hơn sỏi lớn 1-2cm vì có thể gây biến chứng rất nặng thậm chí tử vong là viêm tuỵ cấp hoại tử.

Sỏi gây triệu chứng đau, sốt từng đợt nên điều trị bằng phẫu thuật.

Tán sỏi: Chưa áp dụng để điều trị sỏi túi mật. Không hiệu quả và gây biến chứng.

Điều trị chuẩn vàng hiện nay cho sỏi túi mật là phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Có thể phẫu thuật nội soi thông thường với 3-4 vết rạch da nhỏ 0.5-1cm trên thành bụng để đưa dụng cụ hoặc phẫu thuật SILS một đường rạch qua rốn để không thấy sẹo sau khi mổ.

Thời gian phẫu thuật trung bình cho 1 ca sỏi túi mật 10-30phút, thời gian nằm viện sau mổ 2-3 ngày.

Trong điều trị phẫu thuật, phẫu thuật khi túi mật không viêm dễ hơn nhiều khi túi mật đã viêm nhiều lần.

6. Phòng chống bệnh:

            Một vấn đề lớn là sau khi điều trị hết sỏi mật thì lại tái phát sỏi khác. Hiện tại chưa có cách để ngăn chận tái thành lập sỏi. Sỏi mật được thành lập là do mất cân bằng về chuyển hóa trong gan. Nghiên cứu thấy rằng khỏang 30 đến 50% bệnh nhân sẽ có tái phát sỏi sau điều trị trong vòng 5 năm . Tuy nhiên một số rất ít mới có phát triển biến chứng đau.

Chế độ dinh dưỡng sau đây giúp ngăn ngừa tái phát sỏi mật:

Tránh để tăng cân: Giảm mỡ: Cần hạn chế các thực phẩm cholesterol như phủ tạng động vật, trứng...

Tăng đạm để tăng tạo tế bào gan đã bị tổn thương, chống thoái hóa mỡ tế bào gan.

Giàu đường bột: Thức ăn này dễ tiêu, lại không ảnh hưởng đến mật. Nhiều chất xơ lại giúp tiêu hóa tốt tránh táo bón.

Giàu vitamin C và nhóm B (để tăng chuyển hóa chất mỡ và đường bột). Dùng rau và hoa quả tươi rất tốt.

Tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng đạm, mỡ, đường ở người trưởng thành bình thường là 1/0,75/5 còn ở người bị sỏi mật nên là 1/0,5/5.

Thức ăn không nên dùng: Trà, cà phê, cacao, chocolate; thịt cá nhiều mỡ, dầu cọ, dầu dừa, phủ tạng động vật. Hạn chế ăn lòng đỏ trứng.

Thức ăn nên dùng: Nước quả, hoa quả tươi các loại, rau tươi, bánh kẹo ít trứng bơ, các loại thịt cá nạc như nạc thăn lợn, thịt bò, cá quả, cá chép, các loại đậu đỗ như đậu tương, đậu xanh, đậu đen. Ngoài ra có một số thức ăn lợi mật như nghệ, lá chanh, có thể dùng được.

Để kích thích túi mật co bóp nhẹ nhàng, có thể dùng một ít chất béo dễ tiêu như bơ rồi đến dầu thảo mộc sống, mỡ gà vịt.

Khi bị viêm túi mật cấp tính, cần để cho túi mật nghỉ ngơi bằng cách loại bỏ hoặc giảm bớt các chất béo trong chế độ ăn và cả chất protid nữa vì chúng làm cho túi mật tăng co bóp. Chế độ ăn chỉ nên có glucid như nước đường, nước quả, nước rau, cho thêm bột ngũ cốc, khoai nghiền. Nên ăn nhạt, nhiều chất xơ để chống táo bón, có thể cho ăn sữa đã tách bơ.

Trong trường hợp bị viêm túi mật hoặc đường mật mạn tính, bệnh nhân thường có triệu trứng rối loạn tiêu hóa, cần áp dụng một chế độ ăn nương nhẹ chức năng mật, tương tự như chế độ ăn nương nhẹ chức năng gan, cụ thể là hạn chế chất béo. Các chất mỡ có ảnh hưởng không chỉ đối với chức năng gan, mật mà cả với dạ dày. Nó làm cho môn vị mở chậm và gây đầy bụng vì nó tụ lại trong dạ dày. Mỡ cản trở bài tiết HCl (cần cho sự tiêu hóa protid) và làm cho mật xuống ruột không đều, tăng chất độc vào máu, ảnh hưởng tới gan.

Người bị viêm túi mật và đường mật mạn tính về mật mỗi ngày chỉ nên ăn một lần thịt, dùng loại thịt trắng và nạc, không có mỡ. Dùng thịt tươi, nấu đơn giản. Đạm thực vật (đậu, đỗ) nên ăn dưới dạng nghiền nát, ninh nhừ.

Với các thức ăn giàu glucid, nên dùng nhiều đường vì dễ tiêu, không ảnh hưởng xấu đến mật, không dùng chocolate, ca cao, các thức ăn có trộn thêm trứng và bột (ví dụ bánh ngọt) vì gây khó tiêu.

7. Câu hỏi tham khảo : Câu hỏi :Mẹ cháu bị vôi hóa ở gan, thỉnh thoảng đau bụng, mệt mỏi? :Thưa các bác sĩ,


Mẹ cháu 50 tuổi, mẹ bị vôi hóa ở gan. Thỉnh thoảng mẹ cũng đau quặn bụng, mệt mỏi. AloBacsi ơi, giờ mẹ cháu cần uống thuốc gì và điều trị như thế nào cho mau khỏi? Cháu cảm ơn AloBacsi nhiều ạ.

Trả lời:

Vôi hóa ở gan thường là lành tính. Bệnh không có triệu chứng, trừ khi đốm vôi hóa quá to gây đau. Bệnh thường được tình cờ phát hiện khi siêu âm.

Trường hợp của mẹ cháu có triệu chứng đau quặn bụng, mệt mỏi cần được thăm khám trực tiếp để có chẩn đoán và điều trị cụ thể. Cháu nên đưa mẹ tái khám sớm nhé.