1. Tổng quát:

- Ruột thừa đóng vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa. Trong hệ thống ống tiêu hóa có lớp màng vi khuẩn có ích. Các vi khuẩn này sống cộng sinh với con người và đóng vai trò thiết yếu trong sự tiêu hóa (giúp lên men thức ăn, tổng hợp vitamin).

- Nhiều công trình nghiên cứu ghi nhận lại sự tập trung rất đông đúc của vi khuẩn có ích tại ruột thừa và càng xa khu vực này, mật độ của chúng càng giảm. Như vậy, ruột thừa là nguồn dự trữ vi khuẩn có ích cho tiêu hóa. Đặc biệt, trong trường hợp tiêu chảy nặng, hệ tiêu hóa bị "thất thoát" một lượng lớn vi khuẩn có ích, sự "chi viện" từ ruột thừa là vô cùng cần thiết để lập lại trật tự, tránh việc các vi khuẩn gây hại lợi dụng xâm nhập.

            - Viêm ruột thừa gây đau thường bắt đầu xung quanh rốn và sau đó chuyển tới vùng bụng dưới bên phải. Viêm ruột thừa đau thường tăng lên trong khoảng thời gian từ 12 đến 18 giờ và cuối cùng trở nên rất nghiêm trọng.

            - Viêm ruột thừa có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai, nhưng nó thường xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10 và 30. Tiêu chuẩn điều trị viêm ruột thừa là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa.
            - Viêm ruột thừa là tình trạng đặc trưng bởi hiện tượng viêm của ruột thừa. Không nên cắt bỏ ruột thừa nếu chưa có dấu hiệu viêm nhiễm.

2. Nguyên nhân:

            Nguyên nhân thường là do lòng ruột thừa bị tắc nghẽn (do sỏi phân, quá sản tổ chức limpho ở thành ruột thừa, dị vật..) sẽ khiến cho ruột thừa bị sưng lên và nhiễm trùng, tạo thành ruột thừa viêm.
 

3. Triệu chứng:

3.1. Cơ năng
- Đau bụng hố chậu phải, đau thường bắt đầu xuất hiện ở HCP, cũng có trường hợp bắt đầu đau ở thượng vị, quanh rốn sau đó mới khu trú ở HC phải.
Đau âm ỉ, đau liên tục và tăng dần. Ít khi đau thành cơn, nếu có giữa các cơn vẫn đau.
- Nôn và buồn nôn, triệu chứng này có trường hợp có hoặc không.
- Bí trung đại tiện.
3.2. Thực thể.
- Sốt, thông thường không sốt cao, nếu số cao 39-40o chú ý có biến chứng.
- Phản ứng cơ vùng hố chậu phải: triệu chứng có giá tri, phải thăm khám theo dõi nhiều lần, so sánh hai bên. Chú ý ở những bệnh nhân già, béo, chửa đẻ nhiều lần dấu hiệu này yếu ớt.
- Điểm đau khu trú: 
+ Điểm Mac-Burney.
+ Điếm Clado.
+ Điếm Lanz.
* Một số dấu hiệu:
- Schotkin-Blumberg (+).
- Rowsing (+) (dồn hơi từ đại tràng trái và đau HCP).
- Sitkovski (+) (nằm nghiêng bên trái, gây đau HCP).
- Obrasov (+) gặp trong viêm RT sau manh tràng.
3.3. Cận LS:
- Xét nghiệm.
Bạch cầu trong máu tăng, nhất là BC đa nhân trung tính, công thức bạch cầu chuyển trái. Thời kì đầu BC tăng vừa phải, khi có biến chứng tăng cao.
- Siêu âm.
Hình ảnh viêm ruột thừa.
 

4. Biến chứng:

Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, dẫn đến viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết và cuối cùng là tử vong.
Nếu VRT cấp không được mổ sẽ dẫn tới:
- Viêm phúc mạc toàn bộ: Do RT vỡ chảy vào ổ bụng. Lâm sàng thể hiện: Hội chứng nhiễm trùng, bn đau khắp ổ bụng, bí trung đại tiện, chướng bụng do liệt ruột, phản ứng cả khắp ổ bụng.
- Áp xe ruột thừa: Ruột thừa bị vỡ nhưng được mạc nối, các quai ruột bao bọc xung quanh làm hàng rào khu trú vùng viêm không lan ra ổ bụng.
Lâm sàng thể hiện bn vẫn đau HCP và sốt cao, sờ HCP có một khối không di động mặt nhẵn ấn căng đau. Xét nghiệm BC tăng cao.
Áp xe ruột thừa có thể vỡ vào ổ bụng hoặc vỡ ra ngoài gây rò.
- Đám quánh ruột thừa: Do sức đề kháng tốt, viêm ít sự kết dính của quai ruột và mạc treo tốt.
Lâm sàng thể hiện: Đau và sốt giảm, HCP có khối chắc, không di động ấn đau ít. XN BC gảm dần trở lại bình thường. Đám quánh cũng có thể tiến triển theo hai hướng hoặc tan dần hoặc tạo áp xe ruột thừa.

5. Điều trị:

5.1. Viêm ruột thừa chưa có biến chứng.
Mổ bụng theo đường Mac-Burney.
Cắt bỏ ruột thừa.
Lau sạch và đóng ổ bụng theo từng lớp.
Có thể đặt dẫn lưu hay không tùy theo tình trạng ổ bụng.
5.2. Viêm phúc mạc toàn bộ.
Mổ bụng theo đường trắng giữa trên dưới rốn hoặc đường trắng bên phải.
Cắt bỏ RT hoại tử.
Lau rửa ổ bụng sạch.
Dẫn lưu Douglas và hố chậu phải.
Đóng bụng một lớp, để hở da.
5.3. Áp xe ruột thừa.
- Mổ cấp cứu có trì hoạn, rạch da theo đường Roux.
- Chọc dò mủ, rạch tháo áp xe, dẫn lưu ổ mủ.
- Không tìm cách cắt ruột thừa, không làm ổ mủ thông với ổ bụng.
5.4. Đám quánh ruột thừa.
Điều trị kháng sinh, khi đám quánh tan, mổ cắt ruột thừa.\

6. Chế độ dinh dưỡng:

            - Trong 3-5 ngày sau mổ có thể ăn sữa, cháo, súp… được. Nên dùng các loại thức ăn có nhiều vitamin B, C, PP như nước cam, chanh .... Thức ăn cần chế biến mềm, hạn chế thức ăn có xơ.

            - Giai đoạn tiếp theo khi bệnh nhân có thể đại tiểu tiện bình thường, vết mổ đã liền thì chế độ ăn cần cung cấp đầy đủ calo và protein để tăng nhanh thể trọng và vết thương mau lành. Một ngày có thể ăn 5-6 bữa, ăn tăng dần lượng protein và kcalo để có thể đạt 2500 kcal - 3000 kcal/ ngày, không nên cho ăn quá nhiều một lúc tránh trường hợp bị rối loạn tiêu hóa. Có thể ăn được sữa, trứng, thịt, cá, đậu đỗ… để cung cấp chất đạm và các loại hoa quả để tăng vitamin C và vitamin nhóm B.

            - Không nên uống nước có ga, còn chế độ ăn uống không nên kiêng cữ, cần ăn uống đủ chất, nhiều dinh dưỡng để người bệnh mau hồi phục sức khỏe và vết thương mau lành.

7. Câu hỏi liên quan:

 Câu 1: Sau khi mổ ruột thừa bao lâu có thể trở lại làm việc bình thường và sau bao lâu có thể trung tiên được?

- Thông thường nếu là mổ nội soi thì nên nghỉ ngơi sau mổ ít nhất là hai tuần trước khi quay trở lại làm việc và nên nghỉ trong vòng 1 tháng mới nên làm việc nặng.

- Còn trong trường hợp mổ bình thường thì thời gian nên nghỉ sau mổ phải ít nhất là hai tháng trở lên trước khi làm các công việc nặng và nên nghỉ khoảng 2 - 3 tuần mới nên tiếp tục làm việc trở lại.
           - Thời gian trung tiện: Thời gian phục hồi nhu động ruột, từ khi mổ đến khi bệnh nhân có thể trung tiện được ( tùy thuộc vào cơ địa của từng người)

Câu 2: Sau khi mổ ruột thừa bao lâu có thể sinh hoạt vợ chồng bình thường? Có thai trong giai đoạn này thì có ảnh hưởng gì không?

- Sau khi sức khỏe hồi phục hoàn toàn bình thường có thể quan hệ vợ chồng. Các động tác quan hệ nên nhẹ nhàng và tránh tác động mạnh lên vết mổ.

            - Về việc có thai, mổ nội soi và mổ phanh nên để 3 tháng đến 6 tháng thì mới nên có thai vì ngoài thuốc kháng sinh ra khi có thai làm căng da vùng bụng, khi thai phát triển bé đạp cũng sẽ ảnh hưởng tới vết mổ. Tuy nhiên cũng tùy thuộc vào cơ địa của từng người nếu vết mổ tốt không bị nhiễm trùng thì việc có thai sẽ thuận lợi hơn và nên đi kiểm tra Bác Sĩ định kỳ trước khi muốn có thai để Bác Sĩ tư vấn cụ thể.