1. Đại cương

 a. Khái niệm động mạch vành:

Động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng quả tim. Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim.

Động mạch vành xuất phát từ động mạch chủ, ngay trên van bán nguyệt. Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: Động mạch vành phải và động mạch vành trái. Động mạch vành trái cung cấp máu cho vùng trước thất trái và nhĩ trái. Động mạch vành phải cung cấp máu cho hầu hết thất phải, nhĩ phải và phần sau thất trái.

Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1 – 3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mạch mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành. Như vậy, hệ thống động mạch vành có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: Động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Các động mạch lớn nằm ở bề mặt của tim, các động mạch nhỏ đi sâu vào khối cơ tim, từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim.

b. Khái niệm bệnh động mạch vành:

Bệnh động mạch vành là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của bênh này là bệnh mạch vành, bệnh tim mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ. Bệnh chủ yếu là sự tích tụ mảng xơ vữa động mạch bên trong thành động mạch cung cấp máu đến cơ tim.

2. Các nguyên nhân gây bệnh

a.  Các yếu tố nguy cơ lớn không thể thay đổi được:

-        Lớn tuổi: Khoảng 82% người tử vong vì bệnh động mạch vành là từ 65 trở lên.

-        Giới tính: Nam giới có nguy cơ bị đau tim cao hơn phụ nữ và bị sớm hơn.

-        Yếu tố di truyền (kể cả chủng tộc): Trẻ có cha mẹ bệnh tim thì dễ bị mắc bệnh này. Phần lớn người có tiền sử gia đình mạnh về bệnh tim có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ khác nữa.

b. Các yếu tố nguy cơ lớn có thể thay đổi, điều trị hay kiểm soát bằng cách thay đổi lối sống hay thuốc:

-        Hút thuốc lá.

-        Cholesterol trong máu cao

-        Cao huyết áp

-        Lối sống ít vận động.

-        Béo phì và dư cân: Người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức - đặc biệt nếu tích mỡ quá nhiều vùng bụng - dễ bị bệnh tim và đột quỵ ngay cả khi không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào khác.

-        Tiểu đường: Tiểu đường làm tăng nguy cơ phát bệnh tim mạch. Ngay cả khi nồng độ glucose được kiểm soát, tiểu đường cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ, nhưng các nguy cơ này thậm chí còn cao hơn nữa nếu đường huyết không được kiểm soát tốt.

3. Triệu chứng

a. Tính chất đau ngực: Cảm giác đau thắt, bóp nghẹt, xiết chặt, cũng có thể là cảm giác bỏng rát, kim châm.

b. Vị trí : Đau sâu phía sau xương ức, chính giữa tim, hoặc ngực trái. Đôi khi đau ở vùng thượng vi dễ làm  lầm tưởng là đau dạ dày.

c. Hướng lan: Đau ngực có thể không lan, có thể lan xuyên lồng ngực ra phía sau giữa 2 xương bả vai, hoặc lan từ ngực lên hàm, lan lên vai, dọc theo mặt trong cánh tay trái tới ngón út.

d. Độ dài cơn đau : Có thể chỉ thoáng qua vài giây, có thể vài phút, hoặc kéo dài vài chục phút.

e. Hoàn cảnh khởi phát cơn đau: Cơn đau xuất hiện sau gắng sức thể lực (ví dụ như đi bộ đường dài, leo cầu thang, khiêng đồ nặng, ăn no, chơi thể thao, giao hợp … ) hoặc xúc động nhưng giảm khi nghỉ ngơi hoặc ngậm thuốc Nitroglycerin dưới lưỡi.

Tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng có đủ những triệu chứng điển hình như vậy mà rất thay đổi. Chính vì  vậy mà sẽ có các dạng biểu hiện khác nhau: Cơn đau thắt ngực im lặng, Cơn đau thắt ngực điển hình , Cơn đau thắt ngực không điển hình, và nặng nhất là nhồi máu cơ tim.

4. Hậu quả của bệnh động mạch vành

Hẹp lòng động mạch vành sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim, tình trạng này có thể kéo dài lâu ngày. Bệnh nhân sẽ bị đau ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cấp.

Khi mảng xơ vữa trong lòng động mạch vành vỡ ra thì sẽ làm bít tắc hoàn toàn động vành và gây ra thiếu máu cơ tim cấp tính, nặng nề, hoại tử cơ tim – còn được gọi là nhồi máu cơ tim cấp. Tỷ lệ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp rất cao. Bệnh nhân qua được cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể sẽ bị suy tim sau nhồi máu cơ tim, bị rối loạn nhịp tim sau nhồi máu cơ tim.

5. Các xét nghiệm

a. Điện tâm đồ. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm thay đổi về tính chất điện học của tim.

b. Siêu âm tim. Tình trạng thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng đến sự co bóp của tim. Thiếu máu cơ tim ở vùng nào thì cơ tim ở vùng đó sẽ bị rối loạn.

c. Điện tâm đồ và siêu âm tim lúc gắng sức. Với tình trạng lòng động mạch vành chỉ hẹp ở một mức độ vừa phải thì triệu chứng thiếu máu cơ tim chỉ xảy ra khi gắng sức. Nghĩa là bệnh nhân chỉ đau ngực khi gắng sức và những thay đổi về điện tâm đồ và về siêu âm tim chỉ xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức mà thôi. Vì vậy, có những bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim mà điện tâm đồ và siêu âm tim hoàn toàn bình thường. Trong những trường họp này, điện tâm đồ họăc siêu âm tim thực hiện lúc gắng sức sẽ giúp chẩn đoán được tình trạng thiếu máu cơ tim.

d. Xạ hình tưới máu cơ tim: Dùng chất đồng vị phóng xạ bơm vào mạch máu. Những vùng nào của cơ tim bị thiếu máu nuôi sẽ giảm hoặc không bắt được chất đồng vị phóng xạ. Dùng máy scan để phát hiện những vùng như vậy và chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

e. Chụp động mạch vành chọn lọc, cản quang: Phương pháp này được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh động mạch vành. Thông qua biện pháp này bác sĩ  biết được tình trạng của hệ thống động mạch vành của bệnh nhân: Hẹp, tắc, tại đâu, bao nhiêu mạch máu bị tổ thương…

f. Chụp CT đa lớp cắt: Phương tiện này giúp phát hiện tình trạng vôi hoá động mạch vành chứ không giúp chẩn đoán tình trạng thiếu máu cơ tim. Hiện nay phương tiện này chưa được công nhận trong qui trình chẩn đoán thiếu máu cơ tim.

6. Điều trị bệnh động mạch vành: Hiện tại có 3 phương pháp điều trị bệnh động mạch vành:

6.1. Điều trị nội khoa (dùng thuốc):

-        Điều trị các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành để bệnh không tiến triển nặng thêm: Điều trị tăng huyết áp, điều trị rối loạn lipide máu, điều trị tiểu đường, bỏ hút thuốc lá, giảm cân nặng đạt cân nặng lý tưởng, thay đổi lối sống…

-        Điều trị phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp: Dùng các loại thuốc kháng kết dính tiểu cầu để phòng ngừa đông máu gây tắc mạch vành: Aspirine, Clopidogrel…

-        Điều trị chống cơn đau thắt ngực bằng các loại thuốc dãn mạch. 

6.2.  Điều trị can thiệp động mạch vành (nong rộng lòng động mạch, đặt nong- stent- trong lòng đông mạch vành):

Kỹ thuật Thông Tim - Đặt Lưới:

-        Dùng cho các trường hợp đau ngực do thiếu máu cơ tim mà ít hoặc không đáp ứng với thuốc điều trị nội khoa.

-        Dùng cho các trường hợp bị đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim cấp.

Trước khi thực hiện, bệnh nhân sẽ được khám tổng quát và làm một số thử nghiệm như:

-        Chụp một phim x-Quang đen trắng của lồng ngực: Hình dạng lớn nhỏ của trái tim, của đại động mạch và tĩnh mạch phổi; Tình trạng của hai lá phổi, màng phổi và phế quản.

-        Điện Tâm Đồ: Chẩn đoán các rối loạn về nhịp đập của tim; Cấu tạo bất thường to nhỏ của tim, sự nuôi dưỡng của tế bào tim với oxy; Có tiền sử hoặc đang có cơn đau tim; Theo dõi tình trạng tim khi đang giải phẫu hoặc khi thông động mạch.

-        Xét nghiệm máu: Cholesterol HDL, cholesterol LDL; Các yếu tố Prothrombine, fibrinogen; CPK, LDH, Troponin...

a. Lưu ý:

Không ăn từ nửa đêm hôm trước, điều chỉnh liều lượng hoặc ngưng một vài loại thuốc, nhất là thuốc loãng máu, thuốc tiểu đường.

b. Kỹ thuật: 

Kỹ thuật thường được làm ở một trung tâm y tế có đơn vị tim mạch, để phòng trường hợp cần cấp cứu giải phẫu tim.

-        Thông tim thường thực hiện ở động mạch đùi, đôi khi động mạch cánh tay hoặc cổ tay. Bệnh nhân không cần gây mê tổng quát mà chỉ một chút thuốc tê được chích vào háng để giảm đau. Do đó ta tỉnh táo trong suốt thời gian phương pháp được thực hiện.

-        Một vết cắt nhỏ trên da ở bẹn được rạch và một ống ngắn nhỏ được đặt vào động mạch. Qua ống này, một ống thông hướng đạo dài hơn, có thể uốn cong, được luồn vào trong. Dưới sự hướng dẫn qua X quang, ống thông được đưa lên động mạch tim, nơi bị nghẹt. Ống đi lên rất nhẹ nhàng, ta không cảm thấy đau gì, ngoại trừ một chút thôn thốn ở bẹn.

-        Bơm dung dịch mầu cản quang vào ống, tới động mạch vành để chụp hình X quang, xem tắc nghẽn như thế nào.

-        Một ống khác nhỏ hơn đầu có mang một bong bóng xẹp được chuyền vào trong ống hướng đạo. Khi lên tới chỗ bị tắc nghẽn, thì bong bóng được bơm phồng lên. Lúc này máu tới tim sẽ giảm chút ít và ta thấy hơi đau nhói ngực. Bong bóng được bơm lên, xẹp xuống vài lần, sẽ đè vào nơi động mạch dính đầy chất béo, làm lòng động mạch mở rộng. Xong nhiệm vụ, bóng được làm xẹp trở lại.

-        Công hiệu của nong bóng không vĩnh viễn. Theo thống kê, có tới 1/3 bệnh nhân có thể bị nghẹt trở lại trong vòng tháng.

-        Để ngăn ngừa tái tắc nghẽn, một lưới gọi là stent nhỏ xíu được phát minh. Lưới nằm trên ống hướng đạo bong bóng, được đưa tới chỗ nghẹt. Bóng được bơm phồng, lưới mở ra và bám ép vào thành động mạch. Lưới an toàn nằm đó suốt đời người như một cái giá chống đỡ không cho động mạch nghẹt trở lại. Lưới làm bằng hợp kim không rỉ không hư hao, không di chuyển và không trở ngại khi ta đi qua máy rà kim loại ở sân bay hoặc chup X-Quang cơ thể..

-        Ống hướng dẫn được rút ra và phương pháp thông tim đặt lưới hoàn tất.

c. Hậu phẫu:

 Thường thường cần nằm lại bệnh viện khoảng 24 giờ để bác sĩ theo dõi tình trạng sau giải phẫu.

-        Các ống đều được rút ra. Vết cắt trên da nơi bẹn và động mạch được băng bó để tránh chảy máu, nhiễm trùng và để vết thương mau lành. Tim được tâm điện đồ teo dõi, để phát hiện và phòng ngừa biến chứng. Nên nằm nghỉ, chân duỗi thẳng

-        Thuốc: Chống huyết cục như aspirin, thuốc kháng tiểu cầu, thuốc an thần. Nên uống thuốc theo liều lượng, thời gian mà bác sĩ đã dặn.

d. Về nhà:

-        Nên nghỉ ngơi, tránh làm việc quá nặng trong vài ngày, uống nhiều nước để loại chất mầu cản quang.

-        Để ý các dấu hiệu bất thường: Như chẩy máu, nhiễm trùng sưng đỏ, đau nơi vết thương ở bẹn, sốt, trong người mệt mỏi, đau ngực, khó thở. Thông báo cho bác sĩ ngay.

-        Vài tuần sau, khi bác sĩ đồng ý, ta có thể đi làm trở lại được.

-        Tái khám theo hẹn của bác sĩ.

6.3. Điều trị phẫu thuật bắc cầu động mạch vành bằng phương pháp:

a. Mổ bắc cầu động mạch vành theo phương pháp cổ điển bằng cách mở lồng ngực

Phẫu thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên phải có độ chính xác  cao, thời gian mổ trung bình là 1-2 giờ, nhưng còn phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ phẫu thuật và số động mạch vành cần phẫu thuật bắc cầu.

Đầu tiên bác sĩ lấy tĩnh mạch chân, tĩnh mạch hiển trong của người bệnh. Tĩnh mạch này được lấy một đoạn dài từ mắt cá trong cho đến gối.

Nếu bắc cầu bằng động mạch vú trong, bác sĩ sẽ bóc tách động mạch này, trong lồng ngực, nằm cạnh xương ức, và cắt đầu tận của nó(đầu này mang máu cho cơ). Tất cả những động mạch bàng hệ nhỏ được cột lại bằng chỉ khâu sao cho máu không còn tưới về phía động mạch củ im nữa

Sau đó, bác sĩ  bắt đầu cho tim ngừng đập và dùng tuần hoàn ngoài cơ thể: động mạch chủ được  tách ra khỏi tim và được nối với máy đảm bảo chức năng như quả tim. Máy này cũng thu nhận máu từ tĩnh mạch trở về, rồi được cung cấp oxi trước khi bơm lại vào trong động mạch chủ.

Kỹ thuật này cho phép làm tim ngừng đập sao cho phẫu thuật viện có thể thực hiện cuộc phẫu thuật trong điều kiện tốt nhất. Trong khi phẫu thuật, cơ tim cũng sẽ được bảo vệ bằng cách chích máu đã làm nóng hoặc làm lạnh vào trong tĩnh mạch của tim hoặc chích vào trong động mạch chủ(việc làm này tuỳ theo ê-kíp phẫu thuật, và được gọi là làm liệt tim).

Một khi tĩnh mạch đã được lấy, hoặc động mạch vú trong đã được bộc lộ, tuần hoàn ngoài cơ thể sẳn sàng, và cho tim ngừng đập, phẫu thuật viên sẽ bắt đầu phẫu thuật bắc cầu.

=> Như vậy, phẫu thuật viên sẽ tạo một lổ nhỏ ở trên động mạch vành bị bệnh, phiá sau chỗ tắc, và nơi đó mạch máu “được bắc cầu” sẽ được đặt vào. Giai đoạn này rất tế nhị, vì giai đoạn này là giai đoạn phải đảm bảo chất lượng của mổ bắc cầu. Sau đó, tĩnh mạch hoặc động mạch được khâu cố định vào lổ đã tạo ra lúc nảy bằng một loại chỉ rất nhỏ.

Giai đoạn cuối cùng của phẫu thuật bắc cầu là làm cho tim nóng lại (nếu đã làm lạnh tim), hoặc làm cho tim lạnh lại (nếu lúc nảy đã làm nóng tim), để tim khởi động trở lại, sau đó gỡ bỏ tuần hoàn ngoài cơ thề. Sau đó, người bệnh được theo dõi tại khoa hồi sức ngoại khoa tim mạch trong vài giờ.

b. Phẫu thuật bắc cầu bằng nội soi (phẫu thuật ít xâm lấn)

Loại phẫu thuật này đúng ra là chỉ dành cho bắc cầu  một động mạch ở tim, bằng động mạch vú trong. Một số nhóm phẫu thuật tìm cách bắc cầu bằng tĩnh mạch, nhưng chất lượng của nó không tốt bằng.

Lợi ích: Phẫu thuật bắc cầu bằng nội soi là tránh được phẫu thuật mở ngực, không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể, và làm ngưng tim.

Bất lợi lớn nhất: Là không thể có được một phẫu trường đủ rộng để quan sát, và không thể kiểm soát được máu chảy xảy ra ở ngoài tầm nhìn..

Trong phẫu thuật bằng nội soi, phẫu thuật viên sẽ rạch một đường ở bên trái lồng ngực, đưa camera vào để quan sát, và bốc tách động mạch vú trong. Bác sĩ khâu động mạch này lại sao cho máu càng ít chảy càng tốt.  Sau đó phẫu thuật viên cắt động mạch này ở đoạn xa của nó, và khâu tạm lại.

Giai đoạn khác là tạo một lổ trên động mạch vành bị bệnh, phiá dưới chỗ tắc, sao cho có thể thực hiện được bắt cầu động mạch vú trong. Sau cùng, động mạch vú cũng được khâu cố định vào động mạch vành bị bệnh (ở phiá dưới tổn thương) bằng chỉ khâu, và tim vẫn đập. Khi thực hiện phẫu thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên phải có rất nhiều kinh nghiệm.

7. Món ăn hỗ trợ điều trị bệnh động mạch vành

Bên cạnh cách điều trị của y học hiện đại, một số bài thuốc nam đơn giản nhưng rất hiệu quả trong việc tham gia hỗ trợ điều trị bệnh động mạch vành tim

7.1. Rễ cây chè: Rễ cây chè hãm với nước sôi, uống. Bài thuốc có tác dụng điều trị chứng rối loạn nhịp đập của tim. Uống liên tục cho đến khi hoạt động tim trở lại bình thường thì thôi.

7.2.Nước sắn dây: Dùng 30g củ sắn dây sắc lấy nước. Điều trị bệnh về động mạch vành tim, chữa trị bệnh tăng huyết áp, điếc tai đột ngột.

7.3.Hải đới tươi hoặc hải đới ngâm nở: 100g, đậu xanh 50g, nước 500ml nấu cháo ngày ăn 1-2 bát, dùng cho người mỡ máu cao, tăng huyết áp, đờm nhiệt ngăn nhiều.

7.4. Cháo bột ngô gạo tẻ: Quấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho nước vừa đủ, nấu thành cháo, cho bột ngô vào cháo quấy đều, đun sôi thành cháo.

7.5. Xuyên khung: Xuyên khung 10g, sắc lấy nước uống thường xuyên. Có tác dụng chữa trị động mạch vành, tăng huyết áp, tắc mạch máu não.

7.6. Nước nhân trần: Dùng 30g nhân trần, sắc lấy nước uống. Có tác dụng chữa trị về động mạch vành tim, giảm mỡ trong máu.

7.7.Lá cây ngân hạnh: Dùng 30g lá ngân hạnh, sắc lấy nước uống, điều trị bệnh động mạch vành tim có hiệu quả, giảm mỡ trong máu.

7.8. Mộc nhĩ đen: Nấu với đậu phụ, mỗi ngày ăn 2 lần, ăn lâu dài sẽ có hiệu quả chữa xơ vữa động mạch.

7.9. Nước rau cần: Dùng 250g rau cần tươi, rửa sạch, nhúng vào nước sôi trong 2 phút, vắt lấy nước, mỗi lần uống 1 cốc nước rau cần, mỗi ngày 2 lần, có tác dụng hạ huyết áp, an thần.

8. Phòng bệnh

Bệnh ĐMV là căn bệnh thường không được phát hiện sớm, đến khi có triệu chứng xuất hiện thì bệnh đã khá nặng. Do vậy, cách phòng bệnh tốt nhất là phải tầm soát các yếu tố, nguy cơ, kiểm soát chúng, đồng thời phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.

-        Khi người bệnh có cơn đau thắt ngực không cần nghỉ ngơi tuyệt đối nhưng cần hạn chế lao động chân tay và trí óc, tránh gắng sức, nhất là gắng sức đột ngột, đi bộ nhanh, lên dốc, lên cầu thang, ngược gió...,

-        Tránh lạnh, tránh gió lùa, không được tắm đêm, sống điều độ, có giờ giấc nghỉ ngơi, tránh làm việc ngay sau bữa ăn.

-        Tập thể dục nhẹ, tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), nhưng không chơi thể thao nặng như tập tạ, karate, tennis, chú trọng giải trí, nghe nhạc...

-        Không hút thuốc lá vì thuốc lá là nguyên nhân xuất hiện cơn đau, hạn chế cà phê đặc và nước chè đặc vì nó gây mất ngủ.

-        Không nên ăn những bữa quá thịnh soạn, không uống rượu mạnh, ăn ít muối, nhai chậm.

-         Ăn hạn chế chất có nhiều lipid và cholesterol như mỡ động vật, bơ, lòng đỏ trứng, óc, gan, thận và nên dùng dầu thực vật thay mỡ động vật.