1. Nguyên nhân

-        Đến nay, nguyên nhân vẫn chưa rõ nhưng nhiều người cho rằng do ảnh hưởng của viêm gan B và C vì có tới 30-50% bệnh nhân bị bệnh có bằng chứng huyết thanh của nhiễm các virut này. Mặt khác, qua xét nghiệm còn tìm thấy trong huyết thanh hoặc ở các mạch máu bị viêm của một số bệnh nhân các phức hợp miễn dịch gắn trên các kháng nguyên của virut viêm gan B.

-        Bệnh viêm nút đa động mạch thường gặp hơn ở những người nghiện ma túy, chích tĩnh mạch và ở những nhóm người có tỷ lệ nhiễm viêm gan B và C cao. Mặc dù vậy vẫn có khoảng 50% số bệnh nhân viêm đa động mạch không bị viêm gan mới mắc hoặc trong tiền sử.

-        Viêm đa động mạch có thể xuất hiện ở bệnh nhân sốt không rõ nguyên nhân. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở người trẻ tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao gấp 3 lần so với nữ.

 2. Biểu hiện lâm sàng

a. Ban đầu có dấu hiệu như sốt, mệt mỏi, sút cân.

            Khi bệnh tiến triển đến đợt cấp tính trong vòng vài ngày, gây tổn thương nhiều cơ quan với biểu hiện điển hình gồm: hội chứng sốc nhiễm độc, nhiễm khuẩn, xuất huyết giảm tiểu cầu có huyết khối.

b. Đau khớp, đau cơ nhất là các cơ cẳng chân, tổn thương thần kinh.

c. Tổn thương ở da

            Hay gặp là những đám tím xanh hình lưới, và ít gặp hơn là tổn thương mạch máu gây loét da. Ở mắt có thể thấy những chấm bông do bị tắc các mạch máu võng mạc gây ra. Tổn thương thận thấy ở trên 80% bệnh nhân với sự thay đổi của các xét nghiệm thăm dò chức năng thận và biểu hiện tăng huyết áp. Thực tế có tới 50% bệnh nhân viêm đa động mạch có tăng huyết áp.

d. Tổn thương ở thận

            Là viêm cầu thận hoại tử từng đoạn kèm theo tăng sinh ngoài mao mạch và thường phối hợp với đông máu cục bộ trong lòng mạch. Đau khắp vùng bụng sau khi ăn khoảng 30 phút, có khi bệnh nhân buồn nôn và nôn. Nhồi máu do viêm động mạch có thể gây ra viêm túi mật hoặc viêm ruột thừa.

e. Có thể gặp hội chứng bệnh cấp tính và tụt huyết áp do vỡ đột ngột các vi phình mạch ở gan, thận hay mạc treo ở một số ít bệnh nhân.

f. Tổn thương tim xuất hiện muộn

            Gồm viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, loạn nhịp tim, có thể có nhồi máu cơ tim sau viêm động mạch vành để chẩn đoán bệnh cần dựa vào các triệu chứng chính như: có các dấu hiệu lâm sàng của động mạch bị tổn thương; các triệu chứng tổn thương thận, cơ, khớp, tim, hệ thống tuần hoàn gặp ở hầu hết bệnh nhân; ít gặp tổn thương da, phổi; các triệu chứng sốt, tăng huyết áp, đau bụng, những mảng tím xanh hình lưới trên da, viêm một dây thần kinh, thiếu máu, đái ra máu, tăng tốc độ máu lắng; khẳng định chẩn đoán bằng sinh thiết hoặc chụp mạch.

3. Cách điều trị
          Dùng thuốc kháng sinh liều cao mới có thể khống chế được sốt và những triệu chứng cơ bản của bệnh, đồng thời hồi phục các tổn thương mạch máu. Các thuốc này đòi hỏi phải dùng kéo dài, khi ngừng thuốc bệnh ít khả năng tái phát. Đối với các bệnh nhân viêm đa động mạch phối hợp với viêm gan B cần phối hợp giữa thuốc chữa ngắn ngày, sau đó dùng các thuốc chống virut, thuốc hỗ trợ nâng cao chức năng gan.

4. Biến chứng

            Nếu bệnh nhân không được điều trị, tỷ lệ sống 5 năm chỉ là 20%. Khi điều trị đơn thuần bằng thuốc tỷ lệ bệnh nhân sống 5 năm tăng lên tới 50%. Còn trường hợp điều trị phối hợp tỷ lệ sống sót 5 năm đạt tới 80 - 90%.