I. Khái niệm

1. Định nghĩa huyết áp

Huyết áp là áp lực trong lòng mạch máu.  Huyết áp phụ thuộc vào 2 yếu tố: cung lượng tim và độ co dãn của mạch máu hay sức cản ngoại biên.

Huyết áp được thể hiện bởi 2 con số: huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Huyết áp tâm thu là áp lực trong lòng mạch máu khi tim co bóp tống máu ra ngoài. Huyết áp tâm trương là huyết áp trong lòng mạch máu khi tim dãn ra hoặc chính là áp lực trong lòng mạch máu tạo nên do trương lực của thành mạch hay sức cản ngoại biên.


Huyết áp bình thường: HA tối đa (HA tâm thu) từ 90 đến dưới 140 mmHg,

                                        HA tối thiểu (HA tâm trương) từ 60 đến dưới 90 mmHg

Bảng: Phân loại mức huyết áp theo WHO/ISH 1999

Hạng

HATâm thu
(mmHg)

HATâm trương (mmHg)

Tối ưu

< 120

< 80

Bình thường

< 130

< 85

Bình thường cao

130 - 139

85 - 89

THA giới hạn

140 - 149

90 - 94

THA độ 1 (nhẹ)

140 - 159

90 - 99

THA độ 2 (trung bình)

160 - 179

100 - 109

THA độ 3 (nặng)

≥ 180

≥ 110

THA tâm thu đơn độc

> 140

< 90

 

2. Định nghĩa huyết áp cao: 

Những người có huyết áp thường xuyên cao hơn mức độ bình thường được gọi là tăng huyết áp.

II. Nguyên nhân

1. Tăng huyết áp nguyên phát (tiên phát ):

-        Khi tăng huyết áp không tìm thấy nguyên nhân(tăng huyết áp vô căn) gọi là tăng huyết áp nguyên phát. Loại này chiếm tỷ lệ 85-89% trường hợp tăng huyết áp (theo Gifford và Weiss).

-        Phần lớn tăng huyết áp ở người trung niên và người già thuộc loại nguyên phát.

Có nhiều yếu tố thuận lợi làm xuất hiện bệnh tăng huyết áp nguyên phát:

-        Yếu tố di truyền: Bệnh thường gặp ở những gia đình có huyết áp cao hơn là ở những gia đình có huyết áp bình thường.

-        Yếu tố biến dưỡng: Như thừa cân, xơ mỡ động mạch, chế độ ăn nhiều muối.

-        Yếu tố tâm thần kinh: Tình trạng căng thẳng thần kinh.

-        Yếu tố nội tiết: Thời kỳ tiền mãn kinh, rối loạn chuyển hóa lipit, tiểu đường, dùng thuốc ngừa thai…

-        Tình trạng kinh tế xã hội: Tăng huyết áp cũng gặp nhiều hơn ở những nhóm người có trình độ giáo dục và kinh tế xã hội thấp.

-        Giới: Thường thì nam giới dễ bị tăng huyết áp hơn nữ (Nam tuổi lớn hơn 60 hoặc nữ ở độ tuổi mãn kinh). Điều này thay đổi theo tuổi tác và chủng tộc

-        Nhạy cảm với Natri (muối): Một số người bị nhạy cảm với Natri (muối) do đó huyết áp của họ sẽ tăng cao nếu dùng muối. Giảm lượng muối ăn vào có thể làm hạ huyết áp

-        Uống rượu, hút thuốc lá: Uống nhiều hơn 1 hay 2 ly rượu 1 ngày có thể làm tăng huyết áp đối với những người nhạy cảm với rượu.

-        Thuốc tránh thai (dùng bằng đường uống): Một số phụ nữ dùng thuốc tránh thai có thể bị tăng huyết áp.

-        Không tập thể dục: Ngồi nhiều một chỗ có thể gây béo phì và tăng huyết áp.

-        Thuốc: Một số loại thuốc, như amphetamine (thuốc kích thích), thuốc giảm cân, thuốc cảm và dị ứng

2. Tăng huyết áp thứ phát: 

Loại này chiếm 11-15% tổng số trường hợp tăng huyết áp. Ở những trường hợp này, khi bệnh chính được chữa khỏi thì huyết áp thường trở về bình thường.

Nguyên nhân thận (chiếm khoảng 5-8%): Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn mắc phải hoặc di truyền; thận đa nang, ứ nước bể thận, u tăng tiết renin, bệnh mạch thận (3-4%).

Nguyên nhân nội tiết: Cường aldosteron nguyên phát (0,5-1%), phì đại thượng thận bẩm sinh, hội chứng Cushing (0,2-0,5%), u tuỷ thượng thận (0,1-0,2%). Tăng calci máu, bệnh to đầu chi, cường giáp...

Nguyên nhân thần kinh: Toan hô hấp, viêm não, tăng áp lực nội sọ...

-        Hẹp động mạch chủ bẩm sinh

-        Nghiện rượu.

Nguyên nhân khác (khoảng 1%): Hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, bệnh đa hồng cầu.

III. Triệu chứng

Phần lớn không có triệu chứng, cho dù huyết áp có thể cao đến mức nguy hiểm.

Một số người bị cao huyết áp có thể bị nhức đầu, chóng mặt hoặc chảy máu cam. mặt phừng đỏ, mây mù trước mắt, tê tay nhất thời, ruồi bay trước mắt, tiểu đêm.

IV. Biến chứng

Bệnh cao huyết áp rất nguy hiểm vì nó diễn biến âm thầm lặng lẽ nhưng lại gây ra các biến chứng rất nặng nề trên hầu hết các cơ quan của cơ thể như: Tim mạch, não, thận, mắt.

Tại tim, cao huyết áp gây phì đại tim, suy tim và các bệnh mạch vành như thiếu máu cơ tim, cơn đau thắt ngực và nguy hiểm nhất là nhồi máu cơ tim.

Tại não, cao huyết áp gây nhồi máu não và chảy máu não, đứt mạch máu não…

Cao huyết áp gây tổn thương mạch máu thận và có thể gây suy thận.

Tại mắt cao huyết áp gây bệnh võng mạc, hậu quả là mờ mắt, mù.


Hậu quả của tăng huyết áp: Các biến chứng thường gặp trên tăng huyết áp làm giảm tuổi thọ của người bệnh, giảm chất lượng cuộc sống. Với các biến chứng cấp tính như xuất huyết não, nhồi máu cơ tim, v.v.. nhanh chóng đưa người bệnh tới tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề cho bản thân bệnh nhân, gia đình cũng như xã hội.

V. Điều trị

1. Điều trị không dùng thuốc:

 Ðiều chỉnh chế độ ăn và giảm cân nặng được gọi là các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Một số biện pháp điều trị không dùng thuốc khác là bỏ thuốc lá, giảm sang chấn tinh thần, bỏ rượu và tập thể dục đều đặn. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc khi thực hiện riêng rẽ đều có hiệu quả hạ áp nhưng tác dụng của chúng cao hơn nếu thực hiện một cách đồng thời.

Mục tiêu điều trị:

Mục tiêu điều trị là làm cho người bệnh thay đổi thái độ sống nhằm làm giảm nguy cơ các bệnh mạch máu, làm giảm hoặc chậm việc dùng thuốc, điều này đôi khi có thể đạt được hoặc làm tốt hơn việc trị liệu bằng thuốc, bao gồm: Vận động thể lực, cân nặng lý tưởng, giảm rượu, bỏ thuốc lá, cà phê; Giảm cholesterol máu hoặc tiểu đường, cung cấp thức ăn có nhiều potassium và calci, Kiểm soát tình trạng stress, hạn chế muối.

a. Chế độ tập luyện thể dục, thể thao:

Rèn luyện thể lực, thể dục thể thao. Nên tập thường xuyên ít nhất 3 lần mỗi tuần, mỗi lần kéo dài ít nhất 30 phút. Thể dục thể thao thường xuyên làm tăng Lipoprotein HDL là loại protein tốt có tác dụng phòng chống xơ vữa động mạch.

Chế độ thể dục cho bệnh nhân tăng huyết áp:

Hoạt động thể lực giúp bạn giảm tổng lượng cholesterol và cholesterol xấu (LDL) và tăng lượng cholesterol tốt (HDL).

Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA - American Heart Association) khuyến cáo rằng tập thể thao ít nhất 30 phút mỗi ngày sẽ rất tốt cho tim mạch.

Người THA hãy chọn một hay nhiều hơn các môn để tập luyện trong số các môn giới thiệu sau đây:

+        Đi bộ, vừa nhẹ nhàng và an toàn, tuổi nào, giờ nào cũng đi bộ được, có thể đi bộ vài lần trong ngày. Muốn đạt lợi ích thật sự cho tim mạch cần phải đi hơi nhanh, để cho mạch nhanh lên, khi thấy ra mồ hôi sâm sấp và hơi thở gấp một chút là tốt. Nếu  trời lạnh, nên mặc đủ ấm lúc mới đi, sau đó người nóng lên thì cởi bớt khăn, áo ra cầm tay, đi thấy "vừa sức" thì kết thúc buổi tập.

+        Chạy chậm là môn luyện tập rất tốt cho người THA, bắt đầu chạy thật chậm, sau đó nhanh dần lên và khi thấy chớm mệt thì chạy chậm dần lại, rồi chuyển sang đi bộ  trước khi kết thúc buổi tập. 

+        Bơi lội là môn cũng thích hợp với người tăng huyết áp. Nếu có điều kiện, nên bơi ở bể bơi có nước nóng. Người THA cần khởi động từ từ và kết thúc từ từ.

+        Bóng bàn, cầu lông là những môn thể thao nhẹ nhàng, an toàn với người tăng HA

+        Cười đùa trong khi chơi cũng rất tốt cho người bệnh tim mạch. 

+        Khí công dưỡng sinh, Yoga: Các môn này tác động đến hoạt động thần kinh trung ương, đến hệ hô hấp và tim mạch cho nên có tác dụng tốt đến sức khỏe và tim  mạch.
Người THA không nên tập các môn thể thao có cường độ nặng vừa tốn sức vừa tăng gánh nặng cho tim mạch như: Cử tạ, leo núi, bóng đá, quyền anh, tennis...

b. Chế độ sinh hoạt và làm việc:

Bảo đảm ngủ đủ, giữ được tâm hồn thanh thản, tránh stress, căng thẳng thần kinh. Các hoạt động thể lực có thể giúp bạn điều đó. 

c. Giữ cân lý tưởng:

-        Chế độ này bắt buộc ở người thừa cân.

-        Cách duy nhất là chế độ ăn giảm calo (phải giải thích rõ chưa có thuốc nào giúp làm giảm cân được). Cần chú ý sau đợt ăn giảm cân thường có tình trạng tăng cân nhiều sau đó.

d. Hạn chế rượu
e. Bỏ thuốc lá:

Cần biết bỏ thuốc lá không làm giảm huyết áp (ngược lại còn có thể tăng cân sau ngưng thuốc lá). Tuy nhiên, cần khuyến khích bệnh nhân bỏ vì hạn chế được biến chứng trên mạch máu.
g. Điều chỉnh cholesterol/máu tăng và đường/máu tăng là bắt buộc và làm giảm biến chứng mạch máu.

2. Điều trị dùng thuốc:

Thuốc điều trị tăng huyết áp thường được dùng là những nhóm sau:

+        Nhóm ức chế calci.

+        Nhóm chống cao huyết áp trung ương.

+        Nhóm ức chế men chuyển.

+        Nhóm ức chế alpha (α) và beta (β).

+        Nhóm giãn mạch có tác dụng trực tiếp.

+        Nhóm lợi niệu.

Trong đó có 4 loại thuốc (Thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế β, thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng calci) được khuyên sử dụng trong tăng huyết áp vì:

+        Dùng một lần trong ngày.

+        Có hiệu quả.

+        Tác dụng phụ làm phải ngừng điều trị là 25%.

VI. Chế độ dinh dưỡng

1. Chế độ ăn uống:

-        Luôn luôn giữ chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, không nên ăn quá mặn. Nếu trong gia đình có bố mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh tăng HA thì phải tuân thủ các chế độ trên chặt chẽ hơn, cần phải khám sức khỏe định kỳ hàng năm.

-        Điều chỉnh không để lượng cholesterol cao quá mức cần thiết trong máu, nên thay thế mỡ động vật bằng dầu ăn thực vật chế từ đậu nành, lạc, vừng.

-        Tăng cường thức ăn có nhiều vitamin C, E,PP (Bưởi, Hoa hoè, Giá đỗ)

-        Ăn nhạt ( Tất cả các các gia vị mặn: muối, nước mắm, nước tương, mắm tôm nên hạn chế ăn là tốt nhất)

-        Ăn nhiều rau quả: Ăn nhiều rau quả hằng ngày có thể làm giảm huyết áp và phòng chống THA. Một trong những thành phần của rau quả có thể gây tác động đến huyết áp là chất xơ. Tăng chất xơ trong khẩu phần ăn có thể làm giảm huyết áp. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy, nếu ăn trung bình hằng ngày 11,5g chất xơ sẽ làm huyết áp giảm được 1,2 - 1,3mmHg. Nên ăn từ 20 - 35g chất xơ mỗi ngày. Ngũ cốc là nguồn cung cấp chất xơ rất quan trọng trong khẩu phần ăn hằng ngày.

-        Cá nước ngọt: Tăng lượng cá nước ngọt trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể giúp hạ huyết áp. Phối hợp với biện pháp giảm cân nặng làm hạ huyết áp được nhiều hơn. Trong một nghiên cứu khoa học cho thấy, ăn nhiều cá và giảm cân nặng làm huyết áp 133/77mmHg giảm xuống 119/68mmHg.

-        Hạn chế mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não, gan, bầu dục, dưa hoặc cà muối mặn.

-        Kiêng các chất kích thích như thuốc lá, cà phê, rượu, bia, trà đặc, hạt tiêu, ớt, gừng…

-        Thận trọng khi dùng cao hổ, nếu có chứng âm hư hỏa vượng thì không dùng.

2. Một số thực phẩm nên dùng:

Cần tây: Tính mát vị ngọt đắng có tác dụng giãn mạch, lợi tiểu, tăng cường phát triển xương, chống thiếu máu thiếu sắt. Cần tây có chứa canxi, sắt, phospho, nhiều acid amin tự do, tinh dầu, mannitol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu, bổ não giảm huyết áp và giảm mỡ máu. Dùng loại càng tươi càng tốt, rửa thật sạch, giã nát rồi ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt). Cho thêm một chút mật ong, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 40ml.

Cải cúc: Là loại rau thông dụng, có hương thơm đặc biệt, tính mát, chứa nhiều acid amin và tinh dầu, có tác dụng bổ não, hạ HA, những chất xơ thô tốt cho tiêu hóa, thông tiện, giảm cholesterol. Bạn nên dùng làm rau ăn hàng ngày hoặc ép lấy nước cốt uống, mỗi ngày chừng 50ml, chia 2 lần sáng, chiều. Đặc biệt, cải cúc thích hợp với những người bị cao HA có kèm theo đau và nặng đầu.

Rau rút: Tính hàn, vị ngọt có tác dụng thanh nhiệt lợi tiểu, giải độc. Rau rút rất tốt cho các bệnh tăng huyết áp. Y học đã chứng minh rằng chất polysacarid trong rau rút có tác dụng hạ huyết áp và phòng chống ung thư.

Rau diếp: Tính mát, vị đắng có tác dụng lợi ngũ tạng, thông kinh mạch, lợi tiểu... Tốt cho các bệnh tăng huyết áp. Trong thành phần của rau diếp, lượng kali cao gấp 27 lần lượng natri, tỷ lệ này rất có lợi cho sự cân bằng nước trong cơ thể và sự đào thải cặn bã, tăng cường bài tiết nước tiểu. Rau diếp thường dùng ăn sống nên phải chú ý gieo trồng sạch và rửa sạch trước khi ăn để tránh bị tiêu chảy.

Rau cải thìa: Tính mát, vị ngọt, có tác dụng lợi tiểu, thanh nhiệt giải độc... Cải thìa có tác dụng hỗ trợ điều trị đối với các bệnh tăng huyết áp, hở van tim.

Cà chua: Tính mát, vị chua có tác dụng tốt với các bệnh tăng huyết áp, xuất huyết đáy mắt... Chất xeton trong cà chua có tác dụng hạ huyết áp, lợi tiểu. Là thực phẩm giàu vitaminC và P, giúp mềm mạch máu nên có tác dụng chống xơ cứng động mạch và chống ung thư. Nếu ăn thường xuyên mỗi ngày 1- 2 quả cà chua sống sẽ có khả năng phòng chống cao HA rất tốt, đặc biệt là khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt.

Cà tím: Tính hàn lạnh, vị ngọt tác dụng thanh nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu, giải độc... Chứa nhiều vitamin E và P giúp giúp cho thành mạch máu được mềm mại, các chất kiềm trong cà tím giúp giảm bớt lượng cholesterol trong máu. Là loại thực phẩm tốt cho người bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch não, mạch vành...

Cà rốt: Có tác dụng làm mềm thành mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và ổn định HA. Nên dùng dạng tươi, rửa sạch, ép lấy nước uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần chừng 50ml. Đây là thứ nước giải khát đặc biệt tốt cho những người bị cao HA có kèm theo tình trạng đau đầu, chóng mặt.

Hành tây: Tính ấm, vị cay. Trong thành phần không chứa chất béo, có khả năng làm giảm sức cản ngoại vi, đối kháng với tác dụng làm tăng HA của catecholamine, duy trì sự ổn định của quá trình bài tiết muối natri trong cơ thể nên làm giảm HA. Ngoài ra, vỏ hành tây còn chứa nhiều rutin rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não.

Nấm hương và nấm rơm: Là những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng lại có khả năng phòng chống xơ vữa động mạch và hạ HA, rất thích hợp cho những người bị cao HA vào mùa hè thu. 

Mộc nhĩ: Mộc nhĩ đen hay mộc nhĩ trắng đều là những thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA. Hàng ngày, bạn có thể dùng mộc nhĩ trắng 10g hoặc mộc nhĩ đen 6g, đem nấu nhừ rồi chế thêm 10g đường phèn ăn trong ngày. Khi có biến chứng xuất huyết đáy mắt thì đây là loại thức ăn lý tưởng.

Tỏi: Có công dụng hạ mỡ máu và hạ HA. Hàng ngày nếu kiên trì ăn đều đặn 2 tép tỏi sống hoặc đã ngâm giấm, hay uống 5ml giấm ngâm tỏi thì có thể duy trì HA ổn định ở mức bình thường.

+ Bài thuốc tỏi & đậu trắng chữa cao huyết áp. Dùng 100g tỏi và 100g đậutrắng. Bóc vỏ tỏi và vo sạch đậu. Nấunhừ tỏi và đậu với khoảng 2 lít nước.Chia làm 2 hoặc 3 lần, ăn cả cái lẫn nướctrong một ngày. Để tránh làm giảm hoạtchất của tỏi, không nấu bằng lò vi sóng.Điểm đặc biệt của bài thuốc là liều dùngkhá cao nên không dùng hàng ngày,chỉ nên dùng cách khoảng tối thiểu từ2 - 3 tuần. Hầu hết các trường hợp sửdụng đều biểu hiện giảm được huyếtáp ngay ngày hôm sau và tiếp tục hạdần sau đó. Liều lớn của tỏi đã giúp cảithiện nhanh chóng tình trạng xơ vữavà hạ huyết áp.

Đậu Hà Lan và đậu xanh: Là hai loại thực phẩm rất có lợi cho người bị cao HA. Hàng ngày bạn nên dùng một nắm giá đậu Hà Lan, rửa sạch rồi ép lấy nước uống hoặc dùng làm rau ăn thường xuyên. Kinh nghiệm dân gian thường dùng đậu xanh hầm với hải đới hoặc đậu xanh và vừng đen sao thơm, tán bột ăn mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 50g để phòng chống cao HA.

Sữa đậu nành: Là đồ uống lý tưởng cho người bị cao HA, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và hạ HA. Mỗi ngày, bạn nên dùng 1.000ml sữa đậu nành, chia uống vài lần trong ngày.

Táo: Có hàm lượng đường fruitose cao nhất trong các loại trái cây. Ngoài ra, nó còn có acid malic, acid tannic, chất xơ, canxi, phospho, sắt, pectin, kali, lipid, protid, nhiều loại vitamin rất tốt cho cơ thể, chứa nhiều kali có thể kết hợp với lượng natri dư thừa để đào thải ra bên ngoài, giúp cho cơ thể duy trì HA ở mức bình thường. Mỗi ngày, bạn nên ăn 3 quả hoặc ép lấy nước uống 3 lần, mỗi lần chừng 50ml.

Ngoài ra, việc ăn thêm lê, chuối tiêu, dưa hấu, dưa chuột, nho, mã thầy, vừng, hạt sen, ngó sen, củ cải, đậu tương, cải xanh, bắp cải, dầu thực vật, trà tâm sen... đều rất tốt cho những người bị cao HA.

VII. Cách xử lý nhanh khi bị tăng huyết áp đột ngột

1. Thực hiện sơ cứu

-        Khi người bệnh bị tăng huyết áp, hãy để người bệnh được nghỉ ngơi, thư giãn hoàn toàn. Người bệnh không nên nói nhiều vì khi nói không chỉ thanh quản hoạt động mà các cơ quan khác cũng chịu ảnh hưởng làm huyết áp càng tăng cao. Dùng máy đo huyết áp để xác định mức độ tăng và có biện pháp xử lý phù hợp.

-        Để hạ huyết áp có thể cho người bệnh uống 1 cốc nước ép cần tây hoặc cà rốt. Loại nước uống này sẽ giúp giãn mạch, điều chỉnh rối loạn lipid trong máu và ổn định huyết áp. Hoặc có thể dùng nhân sen từ 2-3g, hãm với nước sôi cho người bệnh uống sẽ giúp hạ huyết áp hiệu quả.

-        Trong rượu vang đỏ có chứa lượng chất oxy hóa cao. Vì vậy, cho người bệnh uống từ 1 đến 2 ly rượu vang đỏ sẽ giúp các động mạch giãn nở, làm giảm áp suất máu.

2. Sử dụng thuốc hạ huyết áp

-        Hiện nay có rất nhiều loại thuốc hạ huyết áp, vì vậy người bệnh cần căn cứ vào các triệu chứng đi kèm và tiểu sử bệnh để sử dụng đúng thuốc. Dùng các loại thuốc hạ áp như: hydroclorothiazid, indapamid, prazosin, … theo đơn của bác sỹ. Người bệnh có thể uống kết hợp thêm thuốc trấn tĩnh.

-        Người bệnh cần lưu ý, khi chỉ số huyết áp đã trở lại bình thường cần dùng các thuốc hạ áp có tác dụng chậm như Coversyl, Ace, … với liều thấp để ổn định huyết áp lâu dài.

-        Theo nghiên cứu của Hội tim mạch Mỹ, Chocolate đen chứa lượng Flavonoid cao có thể giúp mạch máu hoạt động tốt, giảm lượng colextơrôn trong máu. Vì vậy, đây là phương thuốc đơn giản mà hiệu quả giúp người bệnh hạ huyết áp khi cần thiết.

3. Đắp thuốc đắp vào huyệt dũng tuyền

-        Nếu trong nhà có bệnh nhân cao huyết áp, hãy dự phòng ngô thù du (bạn có thể mua dễ dàng ở hiệu thuốc bắc). Dùng ngô thù du giã nhỏ, trộn đều với dấm thanh thành dạng hồ đặc. Tiếp đó, bạn bôi một lớp mỏnghỗn hợp vào lá sen hoặc lá chuối tươi đã cắt thành miếng nhỏ.

-        Đắp lá thuốc này vào huyệt dũng tuyền (nằm ở giữa chỗ lõm ở 1/3 trên gam bàn chân), dùng băng vải để cố định miếng cao thuốc tại chân. Phương thuốc này sẽ giúp hạ huyết áp hiệu quả.

4. Áp dụng phương pháp châm cứu

Theo nghiên cứu gần đây, châm cứu vào các điểm huyệt tập trung ở mặt trong của hai cẳng tay (nằm phía trên cổ tay một chút). Đồng thời cho các xung điện thấp chạy qua kim. Sau 30 phút điều trị, có thể giúp huyết áp giảm tới 25mmHg.

5. Sử dụng phương pháp bấm huyệt

-        Huyệt thái dương (nằm ở cuối mi mắt): Dùng phần mềm của ngón tay day vào huyệt thái dương. Day đi day lại với mức độ mạnh tăng dần. Thực hiện lặp đi lặp lại từ 20-30 lần.

-        Huyệt ủy trung (ở giữa nếp lằn khoeo chân): Bạn hãy dùng tay phải day bấm huyệt ở chân trái và ngược lại. Thực hiện liên tục mỗi bên 10 lần. Tiếp đó, dùng tay xoa đi xoa lại vùng da xung quanh nóng lên ở cả hai bên chân.
- Huyệt dũng tuyền (nằm chính giữa chỗ lõm của gam bàn chân): Dùng ngón tay cái vừa day vừa bấm vào huyệt dũng tuyền. Lặp đi lặp lại động tác khoảng 20 lần.

6. Lưu ý

Tăng huyết áp dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Vì vậy, người bệnh cần tự bảo vệ mình bằng cách phòng tránh những nguyên nhân làm tăng huyết áp như: xúc động mạnh, căng thẳng,.. Chế độ dinh dưỡng hợp lý là phương thuốc hiệu quả để duy trì huyết áp ổn đinh.