1. Định nghĩa:

Rối loạn nhịp tim (RLNT) là sự rối loạn hoạt động điện sinh học của tim về ba mặt: sự tạo thành xung động, sự dẫn truyền xung động, phối hợp cả hai mặt trên.
 

2. Nguyên nhân:

-       Các bệnh nhiễm khuẩn: Thấp tim là nguyên nhân thường gặp nhất, rồi đến các bệnh nhiễm khuẩn khác như thương hàn, bạch hầu.

-       Do nhiễm độc: Digital, quinidine procainamid, reserpine, thuốc chẹn beta.

-       Do rối loạn điện giải: Tăng hoặc giảm kali máu, magnê máu, canxi máu.

-       Các bệnh toàn thân: Cường giáp (Basedow), dị ứng thuốc, đái tháo đường.

-       Các bệnh cơ tim: Nhồi máu cơ tim, thoái hóa, lao, ung thư, chấn thương, các bệnh tim bẩm sinh như thông thất, còn ống động mạch, tứ chứng Fallot.

-       Do rối loạn thần kinh thực vật: do xúc cảm hoặc gắng sức.

-       Do phẫu thuật.

-       Do di truyền.
 

3. Triệu chứng một số RLNT thường gặp:

-       Nhịp nhanh xoang: Hồi hộp, nhịp tim trên 80 lần/ phút cả khi nghỉ ngơi và nhịp gia tăng khi gắng sức.

-       Nhịp chậm xoang: Thường không có triệu chứng rõ, nặng hơn có thể choáng, ngất, mạch quay chậm dưới 60/phút. Điện tim: Nhịp xoang với tần số dưới 60 /phút.

-       Ngoại tâm thu: Cảm giác hẫng hụt, đau nhói ở tim, đang ngủ giật mình hoặc nghẹn ở cổ, hoa mắt chóng mặt, thoáng ngất. Nghe tim có thể phát hiện nhịp không đều đơn lẻ hoặc nhịp đôi nhịp ba. Nhịp mạch có ngoại tâm thu (NTT) thường yếu đi hơặc mất.

-       Rung nhĩ: Đánh trống ngực, choáng váng khó chịu, có khi xoàng ngất, đau ngực, khó thở. Triệu chứng chủ quan càng rõ rệt nếu rung nhĩ (RN) xảy ra cấp tính và tần số tim nhanh. Nghe tim có nhịp tim không đều về biên độ, tần số, không trùng mạch quay. Huyết áp thường thấp, thường thay đổi qua các lần đo.

-       Cuồng nhĩ: Bệnh nhân thường có cảm giác rất khó chịu và triệu chứng thưòng rầm rộ hơn rung nhĩ nhất là cơn kịch phát. Nghe tim thấy tim đập nhanh đều 130-150 lần/phút. Tĩnh mạch cổ thường đập rất nhanh hơn tần số tim.

-       Nhịp nhanh kịch phát trên thất: Hồi hộp từng cơn kèm theo khó chịu toát mồ hôi, lo lắng, tiểu nhiều sau cơn.

-       Nhịp nhanh thất: Rầm rộ với đau ngực, khó thở, ngất, rối loạn huyết động. Nhịp tim rất nhanh trên 160 lần/ phút, mạch khó bắt.

-       Xoắn đỉnh: Triệu chứng chủ yếu là ngất, trụy tim mạch. Điện tim sẽ thấy sóng khử cực biến dạng lăn tăn, có chỗ nhỏ và chỗ phình to tùy theo chu kỳ.

-       Rung thất: Điện tim có rối loạn nhịp thất đa dạng.

-       Rối loạn dẫn truyền nhĩ thất (Bloc nhĩ thất): Triệu chứng gợi ý là ngất.
 

4. Điều trị rối loạn nhịp:

a. Mục đích:

-       Loạn nhịp tim kịch phát: Cần cắt cơn ngay.

-       Loạn nhịp tim dai dẳng, bền bỉ: Đưa về nhịp xoang hoặc là kiểm soát tần số thất trong trường hợp đề kháng với điều trị chuyển nhịp.

b. Chỉ định điều trị cấp cứu:

-       Suy nặng chức năng của thất trái.

-       Biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc là trên ECG thấy thiếu máu cục bộ cơ tim.

-       Loạn nhịp không ổn định báo trước khả năng rung thất.

c. Điều trị không thuốc:

-       Xoa xoang cảnh, ấn nhãn cầu.

-       Shock điện

-       Tạo nhịp: Cắt cơn nhịp nhanh bằng phương pháp vượt tần số hoặc là kích thích sớm.

-       Cắt bỏ qua đường tĩnh mạch tổ chức dẫn truyền.

-       Phẫu thuật.

Lưu ý: Khi có các dấu hiệu bất thường cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa, thực hiện theo phác đồ điều trị và chỉ định của bác sỹ.
 

5. Chế độ ăn và phòng bệnh: 

-       Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên, ăn ít chất mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép.

-       Không hút thuốc lá.

-       Hạn chế dùng các chất kích thích với tim như: Cà phê, rượu.

-       Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi.

-       Kiểm tra sức khỏe định kỳ.

-       Điều trị tốt các bệnh lý liên quan: Bệnh xơ vữa mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tuyến giáp...
 

6. Hỏi - đáp:
Hỏi: Gần đây, tôi thấy mệt mỏi, ngực nặng, đi khám bác sĩ nói bị ngoại tâm thu nhưng chưa cần phải uống thuốc, chỉ cần nghỉ ngơi tốt là sẽ đỡ và khỏi. Tôi rất lo lắng, liệu một ngày nào đó căn bệnh này sẽ nặng lên và chuyển thành bệnh tim mạch không?    

Đáp: Ở người bình thường, tim đập khá đều, khoảng 60-80 lần trong 1 phút. Xung động đi từ nút xoang truyền qua nút nhĩ thất đến cơ tim làm tim co bóp đưa máu nuôi cơ thể. Ngoại tâm thu là một xung động bất thường xuất phát từ nhĩ hoặc thất khiến cơ tim co bóp bất thường. Ngoại tâm thu có 2 thể, gồm ngoại tâm thu trên tim lành và ngoại tâm thu trên tim bệnh lý. Mọi bệnh tim đều có thể gây ra ngoại tâm thu. Có người bị ngoại tâm thu không thấy mình có biểu hiện gì bất thường; nhưng những trường hợp ngoại tâm thu điển hình, người bệnh có thể thấy rõ 3 cảm giác đó theo thứ tự: hẫng hụt, ngừng, rồi đập lại. Khi những nhát đập sớm của tim dầy lên và liên tiếp, người bệnh sẽ thấy hồi hộp, mệt mỏi, nặng ngực, khó thở... Ngoại tâm thu là bệnh khá phổ biến, gặp ở ngay cả những người khỏe mạnh, không có bệnh tim gì khác. Nó có thể đến sau khi chúng ta lo lắng, mất ngủ triền miên. Trường hợp này thì bệnh nhân không cần phải dùng thuốc. Chỉ cần nghỉ ngơi tốt, bớt lao động cả trí óc lẫn chân tay, tránh căng thẳng, lo âu, tập thể dục thể thao thường xuyên, tránh dùng các chất kích thích..., bệnh có thể tự nhiên biến mất. Nhưng những trường hợp ngoại tâm thu xuất hiện dày, người bệnh thấy mệt, khó thở, trống ngực... thì phải đi khám tim mạch ngay để được kê thuốc chống loạn nhịp.