1. Khái niệm 

Bệnh viêm quanh cuống bao gồm các tổn thương vùng cuống răng cấp hay bán cấp, hay mạn tính. Bệnh thường do biến chứng của các tổn thương tổ chức cứng của răng như sâu răng hay không do sâu, những sang chấn cấp hoặc mạn tính tại răng, hoặc do sự thiếu sót trong quá trình điều trị gây ra.

2. Nguyên nhân

-        Do biến chứng của bệnh hoại tử tuỷ.

-        Do việc hàn ống tuỷ chưa kín cuống: Theo thống kê của Ingle ở đại học Washington cho thấy có 63,48 % trường hợp bị viêm quanh cuống do hàn tuỷ chưa kín cuống.     

-        Do sang chấn cấp như va chạm mạnh hoặc sang chấn mạn tính do khớp cắn, hàn cao  v.v...

-        Do quá trình sửa soạn và nong rửa ống tuỷ đẩy tổ chức bệnh lý, vi khuẩn xuống vùng cuống v.v...

-        Do kích thích của hoá chất, chất hàn đi qua cuống răng.

-        Viêm quanh cuống răng cũng có thể do đường dây chằng quanh răng đưa tới hay do sự lan toả của quá trình nhiễm trùng từ túi mủ các răng viêm quanh răng.

3. Phân loại

Người ta thường áp dụng cách phân loại theo mức độ tổn thương trên lâm sàng, có ba loại chính:

-        Viêm quanh cuống răng bán cấp  (VQC1)

-        Viêm quanh cuống răng cấp tính  (VQC2)

-        Viêm quanh cuống răng mạn tính (VQC3)

Nhưng thực tế trên lâm sàng, chúng ta còn gặp hai thể nữa đó là:

-        Đợt bán cấp của viêm quanh cuống mạn (VQC 3 +1)

-        Đợt cấp tính của viêm quanh cuống mạn  (VQC 3+2)

4. Triệu chứng

4.1. Viêm quanh cuống răng bán cấp:

-        Toàn thân: Bệnh nhân cảm thấy bứt rứt khó chịu, sốt nhẹ  dưới 380C  hoặc cảm giác thấy ngấy sốt.

-        Cơ năng: Bệnh nhân đau âm ỉ liên tục ở răng tổn thương, cảm giác thấy răng chồi cao. Đau tăng lên khi hai hàm răng chạm vào nhau. Có những trường hợp bệnh nhân chỉ thấy đau âm ỉ nhẹ ở răng tổn thương 1-2 ngày, nhưng không rõ sưng ở lợi vùng cuống.

-        Dấu hiệu thực thể:

+        Khám ngoài: Thường ít thấy sưng tấy ngoài da vùng tương ứng với răng tổn thương nhưng ấn nhẹ vào vùng đó bệnh nhân thấy đau. Khám có hạch nhỏ di động, ấn đau ở vùng  tương ứng với răng tổn thương.

+        Khám trong:

Ngách lợi tương ứng với răng tổn thương sưng nề đỏ nhẹ, đầy, ấn đau.

Mầu sắc răng đổi màu xám, cũng có những trường hợp không rõ thấy răng đổi mầu, qua thăm khám bằng mắt thường.

Khám thường thấy tổn thương sâu răng lớn ở các mặt răng, hoặc những tổn thương tổ chức cứng không do sâu như: Lõm hình chêm, thiểu sản, mòn răng, núm phụ ở các răng số 4 và răng số 5. Nếu không thấy tổn thương trên cần phải khai thác tiền sử sang chấn hay tìm sang chấn khớp cắn.

Gõ răng là một nghiệm pháp giúp ích cho chẩn đoán, nhưng cần phải làm đúng kỹ thuật thì kết quả mới có giá trị đích thực. Người ta dùng chuôi thám châm thực hiện nghiệm pháp này bằng cách gõ dọc và gõ ngang. Kết quả cho thấy gõ dọc đau hơn gõ ngang.

Tuỷ răng không đáp ứng với thử lạnh.

Chụp phim X quang răng: Thấy vùng cuống có một vùng mờ không rõ ranh giới, dây chằng quanh cuống dãn rộng. Hình ảnh tổn thương này sẽ hết sau một đợt điều trị kháng sinh.

4.2. Viêm quanh cuống răng cấp tính:

Toàn thân: Bệnh nhân thường có sốt trên 380C, người mệt mỏi khó chịu, có dấu hiệu nhiễm trùng môi khô, lưỡi bẩn. Có phản ứng hạch tương ứng với vùng răng đau, sờ nắn đau.

Cơ năng: Bệnh nhân đau liên tục dữ dội, nhất là khi hai hàm nhai chạm vào nhau, cảm giác răng tổn thương chồi cao rõ so với các răng lành, làm bệnh nhân không dám nhai.

Dấu hiệu thực thể:

Khám ngoài:

Thường thấy vùng da ngoài má tuơng ứng răng tổn thương sưng nề đỏ, không rõ ranh giới, ấn đau.

Khám trong:

Ngách lợi vùng cuống sưng nề, đỏ, đầy, lan sang cả vùng ngách lợi các răng bên cạnh ấn đau. Có truờng hợp sưng nề nhiều ở phía trong hoặc hàm ếch, mà phần ngoài ngách lợi sưng nề không rõ.

Mầu sắc của răng thường đổi mầu xám rõ, ngoại trừ trường hợp viêm quanh cuống cấp do sang chấn cấp tính. Nhiều trường hợp viêm quanh cuống cấp do biến chứng của núm phụ mặt nhai ở các răng số 4, số 5, thấy không rõ đổi mầu nếu quan sát bằng mắt thường trên lâm sàng.

Khám răng thường thấy tổn thương do sâu chưa được hàn hoặc đã được điều trị hoặc những tổn thương khác không do sâu răng, răng lung lay độ II hoặc độ III.

Gõ dọc răng rất đau, gõ ngang đau nhẹ hơn.

Hình ảnh X quang răng: Thấy vùng mờ rộng quanh cuống răng, ranh giới không rõ, dây chằng quanh cuống răng dãn rộng. Sau khi viêm vài ngày nếu không được điều trị kịp thời có thể thấy mủ thoát ra theo đường ống tuỷ, đường dây chằng quanh răng hoặc qua xương. Nếu biến chứng nặng có thể dẫn tới viêm mô tế bào, nhiễm trùng huyết. Trường hợp là đợt viêm cấp của viêm quanh cuống mạn tính, chúng ta còn thấy hình ảnh của u hạt hay nang chân răng.

4.3. Viêm quanh cuống răng mạn tính

-        Dấu hiệu toàn thân và cơ năng: Thường không có dấu hiệu gì về toàn thân và cơ năng, bệnh nhân có thể thấy khó chịu do mùi hôi từ dịch, mủ thoát ra qua lỗ dò. Bệnh nhân có tiền sử sưng đau nhiều lần, hay dấu hiệu đau âm ỉ nhẹ thành đợt.

-        Dấu hiệu thực thể:

+        Khám ngoài: Thường không thấy gì, nhưng cũng có trường hợp thấy lỗ dò ngoài da, làm co dúm da ở nơi có lỗ dò, có dịch hay mủ rỉ ra qua lỗ dò. Giữa các đợt, lỗ dò được bịt bởi một vảy tạm thời. Đôi khi, lỗ dò lệch chỗ so với vị trí răng tổn thương nên dễ  nhầm với răng bên, nhất là những răng không thấy tổn thương thực thể, như tổn thương sâu răng hoặc những tổn thương không sâu răng.

+        Khám trong:

Thường thấy tổn thương sâu răng lớn và sâu hoặc các tổn thương khác như lõm hình chêm, mòn răng, thiểu sản, núm phụ, mẻ, nứt răng.

Mầu sắc răng đổi mầu xám rõ, một số trường hợp không rõ đổi mầu.

Khám lợi vùng cuống thường thấy có lỗ dò hoặc sẹo ở lợi vùng cuống. Lỗ dò có thể lồi ra ngoài lợi hoặc miệng lỗ dò sát với mép lợi vùng cuống.

Thử nghiệm lạnh  (-), ngưỡng kích thích điện cao hơn bình thường nhiều.

5. Biến chứng

-        Nhiễm khuẩn.

-        Đối với viêm quanh cuống cấp và bán cấp, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách thì có thể dẫn tới viêm mô tế bào hay viêm tấy lan toả sàn miệng. Đây là biến chứng nặng, phức tạp trong quá trình điều trị.

-        Biến chứng viêm hạch hoặc gây áp- xe hạch tương ứng răng tổn thương. Ngoài ra, bệnh viêm quanh cuống còn có thể gây những biến chứng toàn thân như: Viêm nội tâm mạc, viêm thận, viêm khớp, sốt kéo dài, giãn đồng tử v.v...   

6. Điều trị

6.1. Mục đích và nguyên tắc điều trị:   

Mục đích:

Sau khi điều trị hàn ống tuỷ bằng bột dẻo không độc hoặc cắt cuống mà vẫn đảm bảo được chức phận ăn nhai, thẩm mỹ nhưng không có biểu hiện dấu hiệu bệnh lý trên lâm sàng.

Nguyên tắc chung: Muốn đạt được mục tiêu trên cần đảm bảo những nguyên tắc sau.

-        Phải xác định mức độ tổn thương cuống răng để có kế hoạch điều trị phù hợp và kịp thời.

-        Phải chuẩn bị tốt ống tuỷ bằng phương pháp hoá học và cơ học để ống tuỷ tiếp nhận chất hàn.

-        Loại bỏ toàn bộ tổ chức hoại tử, vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, những yếu tố kích thích khác có trong ống tuỷ và tổ chức cuống tạo điều kiện cho tổ chức cuống hồi phục sau điều trị.

-        Trong quá trình điều trị phải đảm bảo vô trùng và không gây bội nhiễm thêm tổ chức vùng cuống hoặc đưa các bệnh khác vào cơ thể người bệnh như viêm gan B, HIV/AIDS.

-        Chất hàn phải là chất trơ, kkhông gây kích thích có hại mà có khả năng kích thích tổ chức vùng cuống tái tạo và hồi phục.       

-        Chất hàn phải dễ bảo quản, dễ sử dụng, có tính cản quang để có thể kiểm tra và theo dõi kết quả sau khi hàn ống tuỷ.   

-        Hàn ống tuỷ phải tới đường ranh giới xương ngà.

-        Trước và sau khi điều trị phải chụp phim răng tại chỗ để xác định chiều dài ống tuỷ, số lượng ống tuỷ và để kiểm tra đánh giá kết quả điều trị.

6.2 Chỉ định điều trị và chống chỉ định điều trị:

Chỉ định điều trị bảo tồn răng:

-        Những răng còn khả năng để phục hồi lại chức năng ăn nhai và thẩm mỹ

-        Những răng có ống tuỷ thông và chân răng không dị dạng

-        Bệnh nhân có điều kiện đi lại và đồng ý để điều trị bảo tồn răng

-        Những răng tổn thương không phải là nguyên nhân của các bệnh toàn thân như: Viêm nội tam mạc, viêm khớp, viêm thận, v.v...

-        Bệnh nhân không bị viêm quanh răng ở giai đoạn cuối

Chống chỉ định điều trị:

+        Răng là nguyên nhân của các bệnh toàn thân và tại chỗ như: Cốt tuỷ viêm xương hàm, nhiễm trùng huyết, viêm thận, viêm khớp, v.v...

+        Bệnh nhân đang có các bệnh toàn thân cấp tính như: Sốt, tâm thần, v.v...

+        Những bệnh nhân tuổi cao, bệnh nhân không có điều kiện đi lại hay bệnh nhân không muốn điều trị.

+        Những răng làm cản trở cho việc làm răng giả.

6.3.  Phương pháp điều trị:                       

Đối với những răng bị tổn thương viêm quanh cuống cấp, bán cấp:

+        Nếu điều kiện cho phép thì dùng khoan trụ hay tròn, mở thông buồng tuỷ, giảm áp lực khí và dịch có trong buồng tuỷ để giảm đau và có tác dụng như trích dẫn lưu.

+        Dùng kháng sinh có tác dụng với vi khuẩn yếm khí và Gram (-), kết hợp với giảm đau, sinh tố. Sau khi hết sưng đau, ta tiến hành điều trị như các bước của tuỷ  hoại  tử.

Đối với răng viêm quanh cuống cấp, bán cấp do chấn thương thì cần phải cố định răng bằng chỉ thép hoặc máng nhựa. Sau đó theo dõi tuỷ xem còn sống hay đã chết bằng cách thử nóng, lạnh, ngưỡng kích thích điện, nếu tuỷ chết phải điều trị tuỷ.

Đối với những răng viêm quanh cuống mạn, viêm quanh cuống cấp và bán cấp, sau  khi đã điều trị kháng sinh, các bước điều trị giống như điều trị tuỷ hoại tử như: Mở buồng tuỷ, nong rửa ống tuỷ, đặt thuốc sát khuẩn CPC, TF, hàn ống tuỷ, phục hồi thân răng. Chỉ riêng có viêm quanh cuống mạn tính, việc điều trị cần được theo dõi nhiều tháng đối với sự liền xương ở tổn thương cuống răng hoặc kết hợp phẫu thuật cắt cuống ngay sau điều trị nội nha.

7. Chế độ ăn

Những thực phẩm tốt cho răng và lợi:

Táo: Táo giúp ngăn ngừa răng không bị sâu do chứa nhiều vitamin C và khoáng chất. Ngoài hai yếu tố này, các quả táo cũng là nguồn chất xơ rất lớn, rất tốt trong việc làm cho răng và lợi sạch.

Cá: Các loại chất đạm là những thành phần quan trọng đối với độ chắc khỏe của răng và lợi. Cá là một trong những loại thực phẩm rất giàu đạm.

Nước: Nước có công dụng giúp vận chuyển những dưỡng chất chủ yếu như canxi và các chất khác đến với các màng tế bào, các màng này có nhiệm vụ tăng cường sự khỏe mạnh cho răng và lợi. Nếu bạn không có điều kiện chải răng sau khi ăn, hãy nhớ uống nước để giữ cho răng miệng sạch.

Sữa và các thực phẩm từ sữa: Sữa là nguồn canxi lớn và tốt cho răng và lợi.

Đậu: Các loại đậu rất giàu canxi và các khoáng chất thiết yếu khác, các dưỡng chất này rất quan trọng đối với răng và lợi.

Cherry và quả nho đen: Chứa bioflavonoid giúp bảo vệ lợi không bị hư hại.

Các loại hạt: Các loại hạt như hạt bí ngô, hạt vừng, hạt hướng dương…đều rất giàu canxi, vitamin và khoáng chất, là các loại dưỡng chất tốt cho sức khỏe của răng và lợi.

Trà: Trà tốt cho răng và lợi vì chứa chất flavonoid chống sâu răng và ngăn ngừa các mảng bựa răng bám vào răng gây sâu.

Rau quả gây ra bệnh răng lợi:

Nhiều báo cáo cho biết trái cây có thể gây ra sâu và mục răng. Nguyên do là những thực phẩm này có nhiều axit làm phá huỷ men răng sau đó vi sinh vật dễ dàng thẩm thấu sâu hơn vào mô răng.

Xét theo tác dụng của nó với răng miệng, các nhà nghiên cứu chia rau quả thành 2 nhóm:

Nhóm có hại: Chuối, chà là, dứa, nho, cà chua, đậu hà lan, quả vả, sung, táo ngọt, quả lựu, cam quýt, quất, rau diếp, mùi tây, cần tây, me chua thuộc nhóm có hại cho răng do chứa nhiều carbohydrate.

Nhóm không gây hại: dưa chuột, bắp cải và súp lơ, bí xanh, bí đỏ, cà tím, củ cải và cà rốt …không làm hại men răng.

Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu 'đoạn tuyệt' với nhóm thực phẩm đầu tiên vì chúng cũng có nhiều yếu tố có lợi cho răng miệng như làm sạch và có chứa florua.

Do đó, cách tốt nhất để bảo vệ răng là vệ sinh răng miệng sau khi ăn, đánh răng, súc miệng bằng nước đun sôi để nguội, nước súc miệng diệt khuẩn.

Ăn kết hợp cả 2 nhóm trái cây và ăn trong bữa chính, không ăn vặt. Nước trái cây nên uống bằng ống hút để tránh tiếp xúc với răng.

Không đánh răng ngay sau khi ăn và uống nước trái cây. Lúc này, lớp men răng sẽ mềm hơn dưới tác dụng của axit hữu cơ trong rau và trái cây, bàn chải sẽ làm mài mòn men răng. Các nha sĩ khuyên sau khi ăn trái cây nên đợi khoảng 30 phút, nước bọt sẽ phục hồi và cân bằng chất khoáng của răng, rồi hãy làm sạch chúng bằng bàn chải.

8. Phòng ngừa

-        Ăn đầy đủ chất bổ dưỡng, hợp lý. Thức ăn bổ cho cơ thể cũng là thức ăn bổ cho răng và lợi. Hạn chế ăn quà vặt có nhiều chất đường, bột dính.

-        Sử dụng các dạng Fluor để ngừa sâu răng.

-        Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần.

-        Nếu có bệnh viêm lợi và viêm quanh răng thì nên chữa trị ngay

-        Tránh không nhai vật cứng như xương, vỏ cua biển.

-        Chải răng ngay sau khi ăn là điều quan trọng nhất và phải thực hiện thành thói quen, suốt đời.

9. Tham khảo các địa chỉ khám chữa bệnh: Chi tiết