1. Tai biến do mọc răng sữa

Tai biến tại chỗ

-        Viêm lợi vùng răng cửa

-        Viêm lợi vùng răng hàm

-        Viêm miệng áp-tơ (aphtouse)

-        Viêm lợi miệng thể có màng hoặc loét

-        Các nang mầm răng hoặc nang quanh thân răng.

Tai biến vùng

Chảy nước mắt nước mũi, đỏ má (phản ứng vận mạch do kích thích dây V), herpes, chàm, chốc đầu, phản ứng hạch.

Rối loạn toàn thân

-        Có thể xuất hiện trước 2,3 ngày  hoặc cùng lúc với răng mọc.

-        Sốt cao.

-        Rối loạn tiêu hoá.

Điều trị

-        Vệ sinh răng miệng tại chỗ bằng nước có natri borat.

-        Bôi tại chỗ sindolor, sedative

-        Nếu viêm quanh thân răng có mủ thi tách lợi, không đụng đến nang.

-        Có thể điều trị kháng sinh.

-        Nâng cao thể trạng bằng vitamin C

2. Tai biến do mọc răng vĩnh viễn

-        Thường mầm răng vĩnh viễn ở sau chân răng cửa sữa hay ở giữa các chân răng hàm sữa nên khi răng vĩnh viễn mọc làm tiêu chân răng sữa.

-        Tai nạn do mọc răng vĩnh viễn ít gặp vi thời gian mọc dài hơn (trên 6 tháng) và thay thế răng sữa nên mọc dễ dàng, trừ hai răng số 6 và số 7 nhưng thường chỉ là tai biến tại chỗ:

+        Chậm mọc răng do suy dinh dưỡng, thiểu nang tuyến giáp.

+        Răng mọc sớm sau các bệnh sún răng, nhổ răng sữa quá sớm.

+        Viêm quanh thân răng hiếm gặp, nếu có thi xuất hiện cương tụ, lợi đỏ phồng, khó chịu, khi mọc gần xong có thể còn lại một miếng lợi trùm phần xa chân răng.

+        Viêm miệng đỏ nửa hàm có phản ứng hạch .

Tai biến cơ học

-        Răng số 6 bị xô về phía gần

-        Các răng sữa còn tồn tại trên hàm.

-        Các răng vĩnh viễn mọc lệch lạc, ngầm.

3. Tai biến do mọc răng khôn (răng số 8)

Tuổi hay gặp từ 18 đến 25.

Răng 8 dưới hay gặp hơn răng 8 trên. Thường do nhiễm trùng, một phần do rối loạn cơ học và thần kinh. Tai biến không xảy ra khi răng còn nằm trong xương hàm.

3.1. Bệnh sinh

-        Trục răng chéo, khoang cách sau hàm hẹp, răng thường nghiêng từ sau trước, mầm răng ở sau và thấp hơn răng 7.

-        Răng 8 nằm trong vùng phát triển của xương hàm, dễ bị kéo nằm ngang và ra sau.

-        Răng mọc cuối cùng nên hay thiếu chỗ.

-        Thân của răng khôn nằm trong một ổ nửa kín nửa hở.

-        Phía sau răng 8 là vùng trũng, dễ đọng thức ăn, dễ bị viêm

3.2. Tai biến:                         

Viêm quanh thân răng :

-        Bệnh nhân đau vùng góc hàm, đau lan lên tai, há miệng hạn chế, nuốt khó và đau.

-        Khám: Niêm mạc lợi đỏ, trùm lên răng 8, ấn đau, in dấu răng đối diện, có thể loét, có mủ. Túi lợi trùm, viêm đỏ, có mủ, có phản ứng hạch góc hàm, sốt, co khít hàm.

-        Tiến triển: Diễn biến trong vài ngày hay vài tuần. Khi răng 8 đã thoát lên, nếu triệu chứng nhẹ đi thì giữđược, nếu nặng lên thì nhổ.

-        Hay tái phát sau 2 -3 tháng.

-        Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng, tiến triển, mọc thẳng hay lệch, đủ chỗ hay thiếu, chụp phim phân loại.

-        Điều trị: Giảm đau, kháng sinh mạnh, rửa túi lợi bằng nước ô xy già 5-6 thể tích, vệ sinh răng miệng, dẫn lưu mủ nếu có áp-xe (abcès), cắt lợi trùm, nhổ răng theo chỉ định.

+        Răng khôn mọc ngầm có thể đưa đến sự hình thành và phát triển nang thân răng ngầm. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, nang sẽ phát triển ngày càng lớn và phá hủy xương ngày càng nhiều. Tuy nhiên, bệnh cũng ít khi xảy ra.

+        Viêm lợi miệng: Lợi thường xuyên sưng đau, có tính tái phát do thức ăn đọng lại nhiều là nguồn dinh dưỡng nuôi vi khuẩn, khi sưng đau thì răng số 8 đối diện lại là một tác nhân nhai vào vùng lợi đó làm việc sưng đau kéo dài hơn

+        Mặt nhai răng 8  tiếp xúc nhiều với thức ăn lưu đọng  có nguy cơ cao mắc bệnh sâu răng.

+        Theo một số tác giả, răng khôn mọc ngầm hay mọc lệch có thể đẩy các răng khác ra phía trước, làm cho các răng này bị xô lệch và mọc chen chúc nhau.

+        Biến chứng ở mô liên kết (viêm mô tế bào): Viêm thể tụ bờ trước cơ mút, viêm tấy cơ cắn, viêm tổ chức liên kết ở má, abcès di cư vùng răng hàm nhỏ, viêm trụ trước amiđan.

+        Biến chứng hạch.

+        Biến chứng gây viêm xương tuỷ hàm.

+        Nhiễm trùng xa.

+        U hạt, nang chân răng.

+        Biến chứng cơ học.

+        Biến chứng thần kinh

3.3. Triệu chứng

-        Đau góc hàm, hạn chế há miệng.

-        Nuốt nước bọt đau, đau họng.

-        Sốt nhẹ.

-        Có thể hơi nề, sưng, mủ, đau tại chỗ.

Mọc lệch

-        Lệch khớp cắn.

-        Sâu mặt xa răng số 7.

-        Xô lệch răng khác.

-        Gây viêm quanh cuống do có lực chèn ép.

Lợi chùm: Chỉ đau do va chạm khi kín hết.

Ngầm: Nặng 1 góc hàm, thay đổi thời tiết thì nhức, đau đầu, sổ mũi, ngào ngạt.

3.4. Xử trí

-        Khi bệnh nhân đến khám vì sưng đau vùng lợi che phủ răng số 8,  xử trí an toàn là sát trùng và lau rửa tại gầm lợi che phủ để loại bỏ hết vi khuẩn, thức ăn và dịch viêm. Đây là một điều trị mang tính xử trí tình huống và không triệt để vì chỉ nhằm giúp bệnh nhân nhanh chóng rút ngắn những ngày viêm cấp xuống nhờ loại bỏ vi khuẩn và hỗ trợ sức đề kháng bởi kháng sinh, không loại bỏ được tương quan xấu giữa lợi và răng

-        Khi bệnh nhân không còn triệu chứng sưng, đau, viêm tại vùng lợi trùm thì có thể gây tê để cắt bỏ hoàn toàn vùng lợi khỏi mặt nhai răng số 8, mặt nhai răng 8 sau cắt bỏ lợi có thể dễ dàng vệ sinh sạch bằng bàn chải, không gây viêm tái phát.

-        Với một số trường hợp kết hợp lợi trùm với răng mọc lệch má, niêm mạc má sau cắt có thể chẩy xuống và che phủ trở lại vào mặt nhai, chữa mãi không khỏi, răng quá lệch, nhổ răng có thể là lựa chọn triệt để nhất cho trường hợp này.

3.5. Chỉ đinh nhổ răng khôn

-        Nên nhổ răng số 8 hàm dưới mọc lệch ngầm sớm trước 30 tuổi để đề phòng biến chứng gây tổn thương răng số 7, nhất là khi phát hiện răng số 8 hàm dưới mọc lệch ngầm có trục lệch từ 45 đến dưới 90º  hoặc lệch ngầm mà tiếp xúc với răng số 7 ở vị trí dưới cổ răng.

-        Khi bệnh nhân có răng số 8 hàm dưới mọc lệch ngầm, điểm cao nhất ngang bằng hoặc hơi cao hơn mặt nhai răng số 7, hở lớn hơn 1/2 mặt nhai, chưa có tổn thương răng số 7, bệnh nhân không muốn nhổ răng thì có thể làm chụp răng số 8 lấp kẽ giữa 2 răng tạo diện cắn đúng với răng hàm trên.

-        Răng mọc lệch hoặc ngầm đã gây biến chứng: Đau, khít hàm, viêm sưng, sâu răng...

-        Răng mọc lệch lạc ra khỏi cung răng, không tham gia vào việc ăn nhai, gây trở ngại cho việc vệ sinh răng miệng

-        Nhổ răng theo yêu cầu của chỉnh hình răng mặt, phục hình.

3.6. Những chú ý sau khi nhổ răng khôn
- Trong 24 giờ đầu sau nhổ răng:

Chảy máu

Để nhanh cầm máu, bệnh nhân cắn chặt miếng gạc vô trùng trong 45 phút. Trong thời gian này, bệnh nhân không súc miệng mạnh, không khạc nhổ, không ngậm hay súc miệng nước muối, không dùng nước nóng, không hút thuốc, uống rượu bia, không dùng tay hay lưỡi chà sát vùng mới nhổ răng. Nếu máu vẫn chảy ít thì có thể tiếp tục cắn gạc vô trùng, nhưng nếu máu chảy nhiều bệnh nhân  phải đến bác sỹ ngay để được can thiệp kịp thời.
Sưng

 Suất hiện ở vùng nhổ răng với mức độ khác nhau tùy thuộc vào độ khó của răng nhổ và cơ địa bệnh nhân. Để giảm sưng, có thể chườm lạnh sau mỗi 20 phút, mỗi lần chườm khoảng 10 phút
Phản ứng đau

Cường độ đau tùy thuộc cơ địa mỗi người. Thuốc được bác sĩ kê toa giảm đau và kháng sinh phòng ngừa nhiễm trùng nên uống càng sớm càng tốt khi cơn đau chưa xuất hiện.
Ăn uống

Dùng thức ăn lỏng, mềm và uống nhiều nước. Không nên ăn thức ăn nóng vào ngày đầu sau phẫu thuật.
Chải răng sạch sẽ

Chải răng các vùng răng khác bình thường, không chải trực tiếp lên vùng vừa nhổ răng trong 24 giờ sau nhổ.
Nghỉ ngơi

Nên nghỉ ngơi sau phẫu thuật nhổ răng khôn.
Một ngày sau nhổ răng
Sưng

Thường rõ nhất vào ngày thứ hai hoặc thứ ba sau can thiệp rồi giảm dần, nên chườm khăn ấm lên vùng sưng khoảng 20 phút, cách nhau sau 20 phút (ít nhất 4 lần mỗi ngày).
Chải răng sạch sẽ

Vệ sinh răng miệng bình thường, chải vùng vừa nhổ răng bằng bàn chải mềm. Súc miệng nhẹ nhàng với nước sạch.
Lưu ý

-       1 tuần sau phẫu thuật, nên trở lại để được bác sỹ cắt chỉ khâu

-       Đi khám răng định kỳ 6 tháng/ 1 lần

-        Nếu có các triệu chứng bất thường (sốt,chảy máu nhiều kéo dài hơn 24 giờ, đau dữ dội...), nên khám bác sỹ ngay để được can thiệp kịp thời.

3.7. Phòng bệnh

-        Tuyên truyền, giáo dục ý thức vệ sinh răng miệng cho mọi người, tuân thủ khám sức khoẻ định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện sớm các bệnh về răng miệng và phòng ngừa biến chứng do răng số 8 mọc lệch.

-        Giải thích cho bệnh nhân hiểu được sự cần thiết phải nhổ răng số 8 khi nó mọc thiếu chỗ hoặc mọc lệch ngầm để tránh những biến chứng.

4. Một số thông tin hỏi - đáp

Câu hỏi

Răng của tôi mọc không thẳng hàng, từ bé tôi không cảm thấy khó khăn gì trong ăn uống nhưng vài tháng nay tôi rất hay bị mỏi hàm bên trái, đau răng, chảy máu răng, hôi miệng, gần đây là nhức đầu bên hàm bị mỏi. Xin hỏi bác sĩ, tôi phải làm gì với tình trạng này?

=> Bs Trả Lời

Tình trạng của bạn có thể là hàng loạt những dấu hiệu bệnh răng miệng. Chảy máu chân răng, hôi miệng, đau răng có thể bạn vừa bị sâu răng vừa bị viêm lợi. Còn mỏi hàm và nhức đầu rất có thể liên quan đến tình trạng răng khấp khểnh suốt những năm qua.

Tình trạng răng mọc không đều thường dẫn tới lệch khớp cắn, trong thời gian đầu, người bệnh không cảm thấy ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt như ăn uống, cười nói nhưng tình trạng này kéo dài không được sửa chữa (khoảng từ tuổi trên 30) sẽ gây ra cảm giác mỏi hàm, nhức đầu. Thậm chí thường xuyên bị sai khớp hàm khi cười, ngáp. Có những trường hợp đau đầu do lệch khớp cắn nhưng ít nghĩ đến do răng mà nghĩ đến do viêm dây thần kinh số V, do đó điều trị bệnh lý thần kinh đã không đem lại kết quả.

Theo chúng tôi, bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt để điều trị sâu răng, viêm lợi và nếu có lệch khớp cắn thì nên điều chỉnh kịp thời. (BS. Nguyễn Trọng Lân)