1. Dị dạng tuyến nước bọt

1.1. Thiểu sản tuyến nước bọt:

-        Không có tuyến mang tai một bên và thiểu sản tuyến mang tai bên đối diện thì hay gặp hơn.
Không có tất cả các tuyến nước bọt chính thì rất hiếm gặp.

-        Hậu quả của không có tuyến nước bọt chính là giảm lượng nước bọt trầm trọng làm hàm răng bị hỏng rất nhanh.

-        Không có hoặc thiểu sản tuyến nước bọt có thể bắt gặp đơn độc hay nằm trong bệnh cảnh của một hội chứng dị dạng phức tạp: Lệch khớp hàm, thiểu sản mặt, đa dị sản ngoại bì di truyền. Đa dị sản ngoại bì di truyền (là loại bệnh lý bất thường thể trạng) dường như di truyền theo nhiễm sắc thể lặn và thường phối hợp với giảm tiết nước bọt, giảm tiết mồ hôi, giảm mọc lông, răng nhỏ kết hợp với những dị dạng khuôn mặt, nhất là thiểu sản mào xương ổ răng.

1.2. Tuyến nước bọt lạc chỗ - dò và nang tuyến nước bọt bẩm sinh:

Tuyến nước bọt lạc chỗ:

            Khi tuyến hay một phần của tuyến nằm vượt ngoài giới hạn giải phẫu thông thường

Dò nước bọt bẩm sinh:

            Rất hiếm gặp, bắt gặp từ khi mới sinh.

            Lâm sàng khám thấy dò nước bọt khi có kích thích tiết nước bọt qua lỗ dò trong miệng hay qua lỗ dò ở da.

            Điều trị bằng phẫu thuật.
Nang tuyến nước bọt thừa:

            Nang có thể nhỏ hoặc rất to làm ta dễ nhầm với nang khe mang vùng cổ. Nó thường xuất hiện ở lứa tuổi lớn hơn với so với nang khe mang.

            Lâm sàng biểu hiện thành từng đợt sưng, viêm, đau.

            Chỉ chẩn đoán phân biệt được với nang khe mang bẩm sinh dựa vào xét nghiệm dịch nang thấy men Amylase.

            Điều trị: Phẫu thuật và gửi giải phẫu bệnh, cho hình ảnh của tổ chức tuyến dạng thanh dịch với các ống tuyến bao quanh nang, đôi khi có thể có tổ chức hạt viêm.

2. Viêm tuyến nước bọt do virus

2.1 Quai bị: Loại viêm tuyến nước bọt hay gặp nhất là quai bị.
Nguyên nhân:

            Tác nhân bệnh nguyên là Paramyxovirus với vòng ADN xoắn cân đối, có vỏ, ái tuyến và ái thần kinh, có khả năng gây miễn dịch và khả năng làm ngưng kết hồng cầu.

            Đường lây truyền: Virus được truyền do tiếp xúc trực tiếp hay do những hạt nước bọt bắn ra từ miệng bệnh nhân.

            Bệnh hay gặp ở trẻ em và thanh niên, lứa tuổi hay bị nhất là 5 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh tương tự giữa nam và nữ, nhưng nam thì hay bị biến chứng hơn: Viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm não, điếc...

Triệu chứng:

-        Giai đoạn ủ bệnh là từ 18 - 21 ngày, và có thể lây cho người khác.

-        Lâm sàng: Biểu hiện chính là sưng vùng quanh tai và đau. Thể lâm sàng hay gặp là thể quai bị trẻ em, chỉ ảnh hưởng đến tuyến nước bọt.

-        Giai đoạn xâm nhập kéo dài trong một thời gian ngắn 24 - 36 tiếng, đây là giai đoạn có khả năng lây nhiễm cao nhất.

-        Lâm sàng: Sốt cao, mạch nhanh, mệt mỏi, đau tai nhất là khi ăn, sờ vùng tuyến mang tai đôi khi cüng có thể gây đau (khớp thái dương hàm, xương chüm, góc hàm dưới), khô miệng và niêm mạc quanh ống stenon đỏ.

Xử trí:

-        Khi xuất hiện những triệu chứng trên ở thời kỳ dịch lưa hành thì cần phải cách ly bệnh nhân.

-        Cách ly bệnh nhân 2 tuần kể từ lúc phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn những thực phẩm dễ nuốt, giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng Paracetamol.

3. Viêm tuyến nước bọt do vi khuẩn

3.1. Viêm tuyến mang tai mủ cấp người lớn:

Nguyên nhân:

-        Nhiễm trùng ngược dòng từ những vi khuẩn miệng đi lên.

-        Do nhiễm trùng máu.
Do vi khuẩn lan từ những ổ nhiễm trùng lân cận vào: Viêm khớp thái dương hàm, viêm xương hàm, viêm mô tế bào vùng mặt, viêm hạch mang tai…

Yếu tố thuận lợi :

-        Giảm hay mất bài tiết nước bọt sau những thủ thuật gây mất nước, sau những điều trị an thần kinh hay tăng năng giáp.

-        Giảm khả năng miễn dịch do quá suy mòn hoặc sử dụng thuốc giảm miễn dịch.

-        Rối loạn chức năng đề kháng với enzyme nước bọt do viêm tụy hoại tử chảy máu 40% trường hợp là do staphylococcus aureus, Streptococcus viridans và S. hemolyticus. 8% trường hợp là do Pneumocoques và colibaccilles. Viếm tuyến mang tai còn có thể do

-        Listeria, nhiều trường hợp xuất hiện sau phẫu thuật đường tiêu hoá hay sau phẫu thuật ghép tạng. viếm tuyến sau bệnh mèo cào.

Lâm sàng:

-        Bệnh xuất hiện đột ngột hay từ từ trên một thể trạng gầy yếu.

-        Sưng, nóng, đỏ, đau rõ vùng tuyến mang tai, một hoặc cả 2 bên. Lỗ ống Stenon đỏ, cương máu và rỉ mủ. Có thể có viêm miệng đi kèm, đau nhiều nhất là khi nhai và khi há miệng, sờ đau.

-        Nhiễm trùng toàn thân: Sốt, mạch tăng, mệt mỏi, suy sụp. Nếu không được điều trị thì dẫn đến abces tuyến, biểu hiện bằng tình trạng toàn thân nặng nề, sưng to, khít hàm, đau tai và đôi khi dò mủ ở da.

Xét nghiệm:

-        Chụp XQ: Hệ thống ống tiết giãn. Nhu mô tuyến cản quang rõ và không đồng nhất. Có thể thấy hình ảnh nút niêm mạc, hẹp ống tiết hoặc sỏi tuyến.

-        Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu đa nhân.

-        Nếu được nên lấy mủ ở ống Stenon để nuôi cấy và làm kháng sinh đồ.

Điều trị:

-        Toàn thân: Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, có thể bằng đường uống hoặc tiêm.

-        Có thể điều tri bổ xung bằng các loại kháng Enzyme như Aprotinine.

-        Rạch dẫn lưu qua a nếu có áp xe.

-        Tại chỗ: Giữ vệ sinh răng miệng, súc miệng bằng các dung dịch sát khuẩn.

3.2. Viêm tuyến mang tai mãn tính hồi viêm người lớn:

            Đây không hoàn toàn là một thể lâm sàng mà thường là do hậu quả của những tổn thương tuyến nước bọt. Giảm tiết nước bọt là một tác nhân quan trọng gây khởi phát và làm kéo dài bệnh. Thường hay gặp ở phụ nữ, nam/nữ: 7,5/1.
Nguyên nhân:

-        Thường xuất hiện sau những bệnh lý gây ứ nước bọt lặp đi lặp lại (viêm ống stenon, giãn ống stenon), hội chứng Sjogren, viêm tuyến mang tai trẻ em không đáp ứng điều trị, hay sỏi tuyến nước bọt.

-        Về vi khuẩn: Thường là do Streptococcus hemolitic và staphylococcus.

Triệu chứng:

-        Sưng viêm tuyến lặp đi lặp lại, thường là một bên. đau vừa phải và tương đối khu trú. đầu ống stenon rỉ ra một ít dịch đục hoặc mủ.

-        Chụp cản quang tuyến: Thấy hệ thống ống tiết giãn không liên tục, đặc biệt trong tổ chức nhu mô thấy nhiều điểm giãn ở ống phân nhánh.

Điều trị:

-        Điều trị kháng sinh toàn thân chỉ áp dụng trong giai đoạn viêm cấp. Phải rửa ống tuyến thường xuyên, một cách hệ thống với các dung dịch kháng sinh (rifamycin, framycetin).

-        Chiếu tia ngoài da: 600 Gy có tác dụng giảm bài tiết của tổ chức nhu mô, tuy nhiên nó chỉ có tác dụng tạm thời.

-        Điều trị phẫu thuật bằng nhiều phương pháp:

+        Hay dùng nhất là thắt ống stenon, mặc dù nguy cơ làm chặn dòng chảy nước bọt, chính vì vậy nó thường được bổ xung bằng phóng xạ 500 - 1200 Gy.

+        Một phương pháp điều trị thay thế thắt ống đã được nghiên cứu trên thực nghiệm là bơm vào trong ống tiết một dung dịch axit amin, tuy nhiên phương pháp điều trị này vẫn cần được nghiên cứu thêm.

+        Ngoài ra, một phương pháp khác là cắt dây thần kinh cận giao cảm (cắt dây thần kinh qua màng nhĩ) cüng đã thu được một số kết quả, phương pháp này tương tự như cắt thừng nhĩ.

+        Biện pháp cuối cùng là cắt toàn bộ tuyến mang tai, tuy nhiên phương pháp này cüng tương đối khó thực hiện do đám rối thần kinh mặt đi trong nhu mô tuyến đang bị viêm mãn tính.
3.3. Viêm tuyến nước bọt cấp tính ở trẻ em:

            Khoang miệng trẻ mới sinh thường vô khuẩn, nhưng sẽ bị nhiễm khuẩn sau vài giờ. Khi đó nếu kháng thể của mẹ bị khiếm khuyết thì sẽ mắc viêm cấp tuyến nước bọt mang tai hoặc có thể là dưới hàm. viêm tuyến có thể một bên hay cả hai bên.
Dạng viêm tuyến nước bọt này sẽ lành nhanh chóng nếu dùng kháng sinh đầy đủ.

3.4. Viêm tuyến nước bọt mãn tính trẻ em: Là bệnh lý tương đối hay gặp.

Bệnh thường gặp ở trẻ 3 - 6 tuổi. Nam/nữ: 3/2.

Nguyên nhân:

-        Vẫn còn mang tính suy đoán.

-        Nhưng thường thấy ở những bệnh nhân có ổ nhiễm trùng trong miệng (sâu răng, viêm Amy ale dạng hốc).

-        Vi khuẩn gây bệnh cüng thường là những vi khuẩn của môi trường miệng - họng: Streptococcus Hemolytiques, Staphylococcus thậm chí còn có thể thấy cả Pneumococcus. Tuy nhiên không có bằng chứng về mối liên quan giữa viêm tuyến mang tai với những ổ nhiễm trùng ở miệng.

Triệu chứng:

-        Thường bắt đầu bằng sưng tuyến mang tai đột ngột, khi ăn. Lâm sàng thường giống với quai bị nên hay làm chẩn đoán nhầm.

-        Vùng mang tai sưng, đau, thường ở một bên, toàn bộ hay chỉ một phần tuyến. đau vừa phải, tăng lên khi há miệng hoặc khi nhai. Viêm đầu ống Stenon, nước bọt đục, có mủ, tăng độ pH. Viêm nhóm hạch cảnh.

-        Toàn thân (sốt, mệt) thường không rõ. ít khi dẫn đến áp xe - dò.

-        Tổn thương dễ nhầm với quai bị, chỉ được nghĩ đến khi bệnh tiến triển lâu hàng tháng, với những đợt tái phát tiếp nhau. Mỗi đợt kéo dài 3 - 10 ngày sau đó tự hết.

Các xét nghiệm :

-        Chụp cản quang tuyến: Thấy kích thước của hệ thống ống tiết vẫn bình thường. Riêng tổ chức nhu mô thì có nhiều điểm giãn.

-        Cần soi tìm vi khuẩn và làm kháng sinh đồ nước bọt từ ống Stenon.

-        Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu trung tính, Amylase máu thay đổi không đáng kể.

Điều trị:

-        Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, thường hay dùng Ampicillin và Macrolide (spiramycin) bằng đường uống: 2g/ngày. phải dùng kháng sinh tiếp tục nhiều tuần sau khi đã lành về lâm sàng.

-        Rửa tuyến bằng bơm vào ống Stenon các dung dịch kháng sinh: Rifamycin hay framycetin cüng mang lại những hiệu quả tốt. Rửa từ 3 - 4 lần mỗi lần cách nhau vài ngày, lặp lại trong vòng 4 - 6 tháng.

-        Điều trị theo phác đồ và phải kiên nhẫn thì mới đảm bảo đạt được lành bệnh vĩnh viễn (thường ở tuổi thiếu niên). Theo một số tác giả khoảng 80 - 90% bệnh nhân tự lành khi đến độ tuổi 13 - 15, điều này có thể là do yếu tố Hormon. Ít khi phải tiến hành hành cắt tuyến.

3.5. Viêm tuyến nước bọt do lao

            Tương đối hiếm, tuy nhiên vẫn còn phổ biến hơn là do lậu và nấm. Vi khuẩn lao thường gây viêm tuyến mang tai (70%) hơn là tuyến dưới hàm (25%) và tuyến nước bọt phụ. Thường là nhiễm trùng thứ phát, và thường là một bên, và ở thanh niên.

3.6. Viêm tuyến nước bọt do lậu

3.7. Viêm tuyến nước bọt do nấm

3.8. Viêm tuyến nước bọt do tia xạ

3.9. Viêm tuyến nước bọt do điện giải

            Thường gặp ở tuyến dưới hàm (90%), tuyến mang tai ít gặp hơn (10%). Nó gây gia tăng độ nhớt nước bọt, thít hẹp hay tắc những ống bài tiết tận cùng.

4. Viêm tuyến nước bọt tự miễn

4.1. Viêm tuyến nước bọt dị ứng:

-        Bệnh lý này không phải là hiếm gặp, mà là khó chẩn đoán xác định. Phản ứng dị ứng xảy ra chứng tỏ sự có mặt của Lympho bào và tương bào. Loại phản ứng này hay gặp ở tuyến nước bọt, đặc biệt là tuyến mang tai, là nơi tập trung bạch huyết cao.

-        Yếu tố gây dị ứng thường là bụi, phấn hoa, một vài loại thức ăn, thuốc (phénylbutazone, nitrofurantoine)...

+        Dị ứng bụi và phấn hoa thường kèm với phì đại tuyến 2 bên. Viêm tuyến nước bọt do thức ăn được nghĩ đến nếu bệnh nhân có phì đại tuyến kết hợp với rối loạn tiêu hoá.

+        Viêm tuyến nước bọt dị ứng ngày càng hay gặp với những thuốc kháng viêm chế phẩm của Phenylbutazone, sau khi dùng thuốc 3 - 5 ngày thì xuất hiện sưng tuyến mang 2 bên, ít đau, giảm dần sau khi ngưng thuốc. Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu trung tính và bạch cầu dưa axít. Sưng xuất hiện trở lại khi dùng thuốc.

+        Viêm tuyến nước bọt dị ứng do iod là thể kinh điển, đặc biệt sau khi dùng chất cản quang có iod.

+        Viêm tuyến nước bọt dị ứng cüng có thể gặp do nitrofurantoin, chloramphenicol, oxytetracyclin, thiouracil, thicianate.

+        Viêm tuyến nước bọt do dị ứng thủy ngân với tăng tiết nước bọt xuất hiện khi điều trị giang mai, có thể là do nhiếm độc.

+        Viêm tuyến nước bọt do nấm thường chẩn đoán nhầm với phì đại tuyến nước bọt do dị ứng, chẩn đoán phân biệt dựa vào test dị ứng với kháng nguyên và điều trị thử với nấm.

+        Chẩn đoán dựa vào: Chụp cản quang tuyến cho thấy tuyến cản quang đậm, không đồng dạng, đôi khi có giãn nang tuyến đa dạng. Xét nghiệm thấy tăng bạch cầu dưa axit trong máu và trong nước bọt. Test trong da với kháng nguyên nghi ngờ giúp khẳng định chẩn đoán.

4.2. Viêm tuyến nước bọt trong bệnh tự miễn:

-        Viêm tuyến có thể xuất hiện đơn độc, nhưng thường thì kết hợp với bệnh tạo keo.

-        Viêm tuyến nước bọt thường xuất hiện trong Lupus ban đỏ rải rác, sau đó là đến xơ cứng bì, viêm da cơ, viêm quanh động mạch.

Lâm sàng:

-        Thường gặp ở nữ, tuổi 30 - 40.

-        Phì đại tuyến mang tai 2 bên vừa phải.

-        Toàn thân: Sốt, đau khớp, giảm tiết nước bọt.

-        Chẩn đoán: Dựa vào sinh thiết, thường sinh thiết tuyến nước bọt phụ ở môi. Sinh thiết ở những vị trí khác và những xét ngiệm đặc hiệu khác phụ thuộc vào loại tổ chức liên kết nghi ngờ. Đối với viêm da cơ và xơ cứng bì thường không tìm thấy kháng thể kháng nhân.

-        Phân tích thành phần nước bọt thấy gia tăng chỉ số Natri đến 20 - 30 mEq/l (bình thường thì chỉ số này là 7 mEq/l) và chỉ số Clo

-        Xét nghiệm máu thấy tăng chỉ số kháng nguyên HLA - DR.

Điều trị: Phức tạp, chủ yếu là điều trị bệnh nguyên.

4.3. Hội chứng Sjogren (viêm tuyến nước bọt cả biểu mô):

            Ngày nay người ta chẩn đoán hội chứng Sjogren khi có xuất hiện tam chứng: Sừng hoá kết mạc khô, giảm tiết nước bọt, và một bệnh lý hệ thống (thường là viêm đa khớp dạng thấp).

            Theo điều tra ở các nước phát triển thì tỷ lệ mắc bệnh là khoảng 1. 200. Thường gặp ở nữ (nữ/nam: 9/1). Hay gặp ở lứa tuổi 40 - 60, hiếm khi gặp ở trẻ em.

            Nguyên nhân: Là một bệnh của tuyến ngoại tiết, do mất điều hòa hệ thống tự miễn của các tuyến ngoại tiết. Phá hủy tuyến có chứa những tế bào trung gian (Lymphocytaire). Hội chứng "khô" có thể xuất hiện đầu tiên và đơn độc với: Khô nước mắt và khô miệng. Có thể kết hợp với những bệnh tự miễn khác (thường là viêm đa khớp dạng thấp). Bệnh tự miễn thường kết hợp là viêm đa khớp dạng thấp (15% trường hợp). Hội chứng Sjogren xuất hiện trong 30% bệnh nhân Lupus ban đỏ rải rác, 70% xơ gan mật nguyên phát. Nó cüng có thể gặp trong viêm đa cơ, viêm quanh động mạch, viêm tuyến giáp Hashimoto, viêm gan mạn hoạt động.

5. Nang tuyến nước bọt

5.1. Nang nhầy:

            Nang nhầy thường phát triển từ sàn miệng do tắc tuyến nước bọt phụ hoặc đôi khi là tuyến dưới lưỡi. Người ta hay dùng thuật ngữ "nang nhái" để miêu tả nang nhầy bởi vì nang nhìn trong suốt, và tương đối lớn giống với bụng của con nhái. Nang thường nằm hẳn về một bên của phanh lưỡi. Nang thường tương đối lớn, làm ảnh đến động tác nuốt và thở. Đôi khi nang tự vỡ, để thoát ra một chất dịch nhầy quánh.
Điều trị:

            Khâu lộn túi là một phương pháp điều trị hiệu quả cho hầu hết các trường hợp nang nhái, mặc dù nó vẫn để lại một tỷ lệ tái phát nhỏ. Chính vì lý do này mà một số tác giả đã chủ trương mổ bóc nang cùng toàn bộ thành nang. Tuy nhiên, vì nang nhái thường bao quanh dây thần kinh lưỡi, nên thủ thuật bóc tách nang dễ gây tổn thương cho ây thần kinh này.

            Những trường hợp nang nhái có kích thước lớn và xâm lấn sâu vào vùng dưới hàm hay vùng tam giác dưới cằm, thì dễ nhầm trên lâm sàng với nang móng lưỡi, nang thanh mạc hay nang dạng da. Chẩn đoán phân biệt với những loại nang này phải dựa vào chụp cộng hưởng từ.

            Cắt bỏ toàn bộ nang là phương pháp điều trị hiệu quả duy nhất bởi vì nang nhái thường gây những đợt nhiễm trùng lặp đi lặp lại. Cắt bỏ toàn bộ nang đòi hỏi có tay nghề cao vì nếu để sót lại tổ chức nang thì thường dẫn đến nguy cơ tái phát thành nhiều ổ nang nhái. Đường chẻ giữa xương hàm dưới và môi tạo ra một đường vào rộng rãi giúp cắt bỏ toàn bộ những nang nhái tái phát nhưng nó có nhược điểm là để lại sẹo không thẩm mỹ ngay giữa môi dưới.

5.2. Nang thoát nhầy:

            Nang thoát nhầy có nguyên nhân do chấn thương, thường là chấn thương nhẹ và bệnh nhân quên đi. Chấn thương gây tổn thương ống dẫn của tuyến nước bọt phụ làm thoát chất nhầy vào tổ chức xung quanh. Vị trí hay gặp là môi dưới. Nang biểu hiện dưới dạng một điểm sưng tròn, chắc giống với một tổn thương cứng ở môi. Nên cắt bỏ toàn bộ nang thoát nhầy và gửi giải phẫu bệnh để xác định chẩn đoán.

5.3. Nang biểu mô bạch huyết trên bệnh nhân HIV:

            Gần đây, người ta đã ghi nhận sự xuất hiện của những tổn thương dạng nang của tuyến nước bọt chính như là một biểu hiện của nhiễm HIV. Chẩn đoán dựa vào sự xuất hiện của tổn thương dạng đa nang, thường ở tuyến mang tai. Và trong trường hợp có triệu chứng trên thì bệnh nhân được xếp vào nhóm có nguy cơ nhiễm HIV cao.

6. Bệnh tuyến nước bọt do thâm nhiễm

            Tuyến nước bọt có thể bị tổn thương trong nhiều bệnh hệ thống khác nhau. Ở một vài bệnh nhân, sưng một hay nhiều tuyến nước bọt có biểu hiện dưới dạng giống khối u.

6.1. Thâm nhiễm mỡ (lipomatosis):

            Tế bào mỡ là một thành phần bình thường của tuyến mang tai. Tỷ lệ mỡ tăng theo tuổi và độ béo của mỗi người.

6.2. Sưng tuyến nước bọt (Sialosis):

            Thuật ngữ "Sialosis" bao hàm những trường hợp sưng tuyến nước bọt lan toả do nhiều nguyên nhân khác nhau.

-        Thường gặp ở tuyến mang tai và lứa tuổi của bệnh nhân thường là 40 - 70.

-        Trong một vài trường hợp, thì không tìm thấy nguyên nhân gây phì đại tuyến.

-        Thường thì phì đại tuyến là do đái tháo đường, phù niêm, người nghiện rượu hay tác dụng phụ khi dùng một số thuốc (ví dụ: thuốc tác dụng giao cm, một số thuốc chống cao huyết áp thế hệ cü đặc biệt là Guanethidine).

-        Chẩn đoán dựa vào bệnh sử, và chẩn đoán xác định dựa vào sinh thiết.

-        Kiểm soát và loại bỏ yếu tố nguyên nhân có thể làm lui bệnh. Tuy nhiên, biến dạng thẩm mỹ thường tồn tại và bệnh nhân thường yêu cầu phẫu thuật cắt bớt tuyến nước bọt.

7. Viêm tuyến nước bọt do sỏi

            Sỏi tuyến nước bọt thì không phải là không hay gặp, đặc biệt là tuyến dưới hàm.

-        Bệnh nhân sỏi tuyến thường bị đau tuyến khi ăn, khi nước bọt bài tiết ra bị chặn lại ở phía sau chỗ tắc. Sỏi cüng là một nguyên nhân gây nhiễm trùng tái phát.

-        Chụp Xquang tuyến không chuẩn bị giúp chẩn đoán xác định sỏi, nhưng chỉ khoảng 40% sỏi tuyến mang tai và 20% sỏi tuyến dưới hàm là cản quang. Và trong trường hợp này Xquang cüng sẽ giúp chúng ta xác định vị trí tắc nghẽn.

-        Những viên sỏi đủ lớn để gây tắc ống tiết thì nên phẫu thuật lấy bỏ nếu không chúng sẽ dẫn đến viêm đau tuyến.

Điều trị: Tán sỏi là một thủ thuật tương đối phổ biến, nhưng chỉ cần rạch mở ống đơn giản cüng có thể giúp sỏi tự thoát ra. Một phương pháp khác là lấy sỏi bằng ống nội soi mềm. Tuy nhiên, đối với những trường hợp sỏi lớn thì nên cắt bỏ toàn bộ tuyến.