1. Dụng cụ chuẩn bị

-        Máy cạo cao.

-        Betadin.

-        Chất đánh bóng.

-        Sindolor.

2. Nguyên tắc

Tuyệt đối không bao giờ được dùng đầu nhọn của đầu lấy cao răng tác động vào bề mặt răng theo một góc vuông so với bề mặt răng (trừ những vị trí như hố, rãnh quá nhỏ, chỉ đưa lướt qua chứ không bổ xuống).

Trong hoạt động của máy lấy cao răng thì đầu nhọn tận cùng của đầu lấy cao là vị trí rung mạnh nhất. Rất nhiều người vì muốn lấy cao răng nhanh chóng nên sử dụng đầu mũi, lấy cao răng với thời gian rất nhanh nhưng đổi lại, bệnh nhân cảm thấy rất ê buốt, và nhất là lấy cao răng dưới lợi thì chảy máu rất nhiều. Đặc biệt là khi để đầu lấy cao vuông góc với bề mặt răng như vậy phát ra tiếng kêu cọc cọc cọc nghe rất kinh

3. Tư thế bệnh nhân và nha sĩ

Đây là yếu tố quan trọng nhất.

Tư thế làm việc đúng nhất chính là tư thế khiến cho nha sĩ cảm thấy thoải mái nhất, nhìn được rõ nhất vị trí cần làm việc. Không có một quy chuẩn nào dành chung cho tất cả mọi nha sĩ vì mỗi nha sĩ có những thói quen khác nhau, kích thước đầu bệnh nhân, cách cầm dụng cụ của bác sĩ…

Nhưng có 2 tư thế phối hợp giữa nha sĩ và bệnh nhân luôn được sử dụng:

-        Với hàm dưới, chỉnh ghế sao cho lưng bệnh nhân hướng 1 góc 45o so với nền nhà, đầu BN nằm ngang bụng của nha sĩ

-        Với hàm trên, chỉnh ghế sao cho lưng bệnh nhân gần song song với nền nhà, đầu bệnh nhân nằm ngang ngực nha sĩ.

-        Mỗi hàm trên hàm dưới thì ở mỗi cung sẽ ngồi ở những vị trí khác nhau, sẽ nói rõ hơn trong phần sau.

Chú ý: Tư thế lấy cao răng chính là sự tổng hợp của tất cả mọi tư thế mà nha sĩ thực hiện tất cả các thủ thuật khác (chữa tủy, phục hình, …). Vì vậy việc có được tư thế lấy cao răng chuẩn phục vụ cho việc thực hiện các kỹ thuật khác được tốt hơn, tránh cho nha sĩ phải bị những ảnh hưởng do làm sai tư thế (gù, vẹo, …).

4. Quy trình lấy cao răng
4.1. Kiểm tra tổng thể đánh giá tình trạng vệ sinh răng miệng của bệnh nhân, xác định mức độ cao răng.
4.2. Sát khuẩn toàn bộ vùng miệng bằng betadin.
4.3. Lấy cao răng với hàm trên: Chia làm 3 vùng:

-        Vùng 1: Từ R18 – R14.

-        Vùng 2: Từ R13 – R23.

-        Vùng 3: Từ R23 – R28.

Mỗi nha sĩ sẽ có những thói quen ngồi khác nhau, cách làm việc khác nhau nên lấy ở vị trí nào trước, mặt trong hay ngoài trước là tùy mỗi người. Ở đây, tại hạ xin được trình bày theo trình tự: Lấy hàm trên trước, mặtngoài trước và lấy từ phải sang trái.
4.3.1. Mặt ngoài vùng 1:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng sang trái, há miệng mức độ vừa.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương banh má.

-        Trục đầu lấy cao hơi nghiêng ra ngoài so với trục thân răng. Lưu ý rằng vị trí này rất khó nhìn thấy cao răng phía xa các răng hàm lớn.

-        Vùng tiếp giáp giữa 2 răng có thể có cao răng kẽ, dùng đầu tận cùng lướt nhẹ giữa kẽ này sẽ lấy hết cao răng phần này.

4.3.2. Mặt ngoài vùng 2

-        Đầu BN nằm thẳng hoặc hơi nghiêng nhẹ sang phải (ống hút để bên phải), khôngcần há miệng quá to.

-        Nha sĩ ngồi vị trí góc 11 – 12h.

-        Tay trái kéo môi BN (tại hạ rất thích dùng tay vì cảm nhận được rất tốt lực của tay, không kéo quá mạnh gây đaucho bệnh nhân).

-        Vùng răng này là vùng răng thẩm mỹ, vì vậy cần chú ý quan sát những chi tiết cao răng nhỏ nhất.

4.3.3. Mặt ngoài vùng 3:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng hẳn sang bên phải.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương banh má bệnh nhân.

4.3.4. Mặt trong vùng 1:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng hẳn sang phải, ống hút đặt bên phải.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương.

-        Thực hiện lấy cao răng, chú ý mặt xa rất khó lấy sạch.

4.3.5. Mặt trong vùng 2:

-        Đầu bệnh nhân nằm thẳng, há miệng tương đối lớn.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 11 – 12h.

-        Tay trái cầm gương, vị trí này thì phải nhìn qua gương: đặt mặt gương một góc chếch khoảng 45o, ánh đèn chiếu thẳng vào gương. Đặt đầu lấy cao hơi nghiêng so với trục thân răng.

4.3.6. Mặt trong vùng 3:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng sang bên trái (ống hút đặt bên trái).

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 7 – 9h.

-        Tay trái cầm gương.

-        Thực hiện lấy cao.

4.4. Lấy cao răng hàm dưới: Tương tự hàm trên, hàm dưới cũng chia ra thành 3 vùng, tiếp theo vùng 3 thì tại hạ tạm gọi là vùng 4, 5, 6.
4.4.1. Mặt ngoài vùng 6:

-        Đầu bệnh nhân hơi nghiêng sang trái.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương hoặc cầmluôn ống hút để kéo má bệnh nhân.

-        Thực hiện lấy cao.

4.4.2. Mặt ngoài vùng 5:

-        Đầu bệnh nhân thẳng.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 11 – 12h.

-        Tay trái kéo môi bệnh nhân (lưu ý vị trí này phải kéo môi hơi rộng một chút để nước không bị bắn ra ngoài).

-        Thực hiện lấy cao.

Chú ý: Có rất nhiều bệnh nhân bị mòn nhóm răng cửa dưới và kể cả chưa thấy mòn nhiều, nhưng chỉ cần có nước xịt vào trên rìa cắn thôi đã thấy buốt, vì vậy khi lấy cao răng vùng này luôn rất chú ý. Giải thích có lẽ là do nhóm răng cửa dưới kích thước tương đối nhỏ, vì vậy chỉ cần bị mòn ít thôi đã gây ra kích thích (ngà, tủy).

4.4.3. Mặt ngoài vùng 4:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng phải.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương banh má.

4.4.4. Mặt trong vùng 6:

-        Đầu bệnh nhân nghiêng phải.

-        Nha sĩ ngồi vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương.

-        Thực hiện lấy cao.

4.4.5. Mặt trong vùng 5:

Có nhiều bệnh nhân há miệng tương đối lớn, vị trí này khi bệnh nhân nằm thẳng và nha sĩ ngồi ở 12h sẽ nhìn rõ. Nhưng thực tế có rất nhiều bệnh nhân há miệng hạn chế cộng với kích thước đầu của họ lại khá to, làm che khuất tầm nhìn. Người lấy cao răng nhiều sẽ để ý việc này, đặc biệt khi lấy cao răng cho những người nước ngoài to béo. Để khắc phục điều này tại hạ thường phải điều chỉnh ghế một chút cho phù hợp với họ, cộng với việc bảo họ cúi gầm cằm xuống một chút. Như thế nhìn sẽ rõ hơn.

-        Bệnh nhân nằm đầu thẳng, hơi cúi cằm.

-        Nha sĩ ngồi vị trí 11 – 12h.

-        Tay trái cầm gương, ánh sáng đèn chiếu vào gương để phản chiếu vào mặt trong vùng này, việc lấy cao sẽ nhìn được rõ hơn.

-        Đặc biệt vùng này sẽ lấy tương đối khó khăn với những bệnh nhân bị khấp khểnh nhóm răng cửa dưới.

4.4.6. Mặt trong vùng 4:

-        Bệnh nhân nghiêng đầu sang trái.

-        Nha sĩ ngồi ở vị trí 9h.

-        Tay trái cầm gương banh má.

-        Thực hiện lấy cao.

4.5. Bôi sindolor:

Với những bệnh nhân có tình trạng viêm lợi mức độ vừa trở lên, nên chấm sindolor làm cho lợi săn lại, ngăn sự chảy máu, và nên kết hợp cho bệnh nhân một đơn thuốc chữa viêm lợi khi về nhà. Bệnh nhân sẽ cảm thấy rất hài lòng sau khi lấy cao răng, đồng thời sẽ càng hài lòng hơn với cách chăm sóc của bác sĩ.
4.6. Đánh bóng.
4.7. Sát khuẩn lại bằng betadin.
4.8. BN súc miệng thật kỹ để lấy hết màu do bôi betadin, kê đơn thuốc viêm lợi nếu cần, hẹn bệnh nhân tái khám định kỳ.

5. Câu hỏi liên quan

Câu hỏi 1: Có nên lấy cao răng hay không?

Trả lời:

Nhiều người nghĩ rằng cạo cao răng chỉ với mục đích làm đẹp, nên ít chú trọng đến vấn đề này. Tuy nhiên, đối với y học, làm sạch cao răng không chỉ vì mục đích thẩm mỹ mà còn vì sức khỏe, bởi cao răng chính là “thủ phạm” gây ra phiền toái cho sức khỏe răng miệng.

            Khi ăn xong nếu không chải răng ngay, thì khoảng 15 phút sau có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng gọi là màng bám. Nếu màng bám không được làm sạch, các vi khuẩn bám vào màng này và tích tụ ngày càng dày lên, gọi là mảng bám. Lúc này, các mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong miệng đến bám hình thành nên những mảng cứng bám xung quanh cổ răng gọi là cao răng. Cao răng là chất cặn lắng cứng có màu vàng nâu, thường đóng xung quanh cổ răng, trên hàm giả. Thành phần của cao răng gồm carbonat canxi và phosphate phối hợp với cặn mềm (mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong môi trường miệng), vi khuẩn, xác các tế bào biểu mô. Ngoài ra, còn có sự lắng đọng sắt của huyết thanh trong máu, nước bọt. Cao răng có thể gây viêm nướu và có mùi hôi.

Cao răng gây một số ảnh hưởng:

            - Vi khuẩn trong cao răng gây viêm nướu. Phản ứng viêm này gây ra hiện tượng tiêu xương ổ răng, làm cho răng tụt nướu, than răng ngày càng dài. Vì vậy, người có cao răng có thể có cảm giác ê buốt khó chịu khi ăn uống. Chân răng bị lộ vì không có nướu che chở và răng bị lung lay, quá trình tiêu xương cũng diễn ra nhanh hơn.

            - Cao răng có thể gây nên các bệnh viêm nướu, viêm nha chu với các biểu hiện như: đánh răng chảy máu, miệng có mùi hôi, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể gây lung lay và rụng răng.

            - Vi khuẩn trong mảng cao răng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh ở niêm mạc miệng (viêm niêm mạc miệng, áp-tơ mà dân gian vẫn gọi là bệnh lở miệng), bệnh ở vùng mũi họng (viêm amidan, viêm họng), bệnh tim mạch.

            Do những ảnh hưởng nêu trên, cao răng cần phải được cạo sạch và tốt nhất nên cạo định kỳ 4- 6 tháng/lần. Có thể cạo cao răng bằng dụng cụ cầm tay hay bằng máy siêu âm. Cạo cao răng bằng máy siêu âm sẽ ít đau, ít chảy máu và sạch hơn. Sau khi cạo cao răng, có thể có cảm giác ê, đau, nhiều hay ít tùy mức chịu đau của mỗi người. Cảm giác ê buốt khi ăn uống nhất là uống nước nóng quá hay lạnh quá có thể kéo dài sau vài ngày rồi hết. Khởi phát của cao răng là màng bám sau khi ăn không được chải rửa sạch. Vì vậy, để ngăn ngừa cao răng, phải kiểm soát được màng bám, giữ răng luôn sạch sẽ.

Lời khuyên để giữ cho hàm răng chắc khỏe

            - Luôn chải răng sạch sau khi ăn.

            - Sử dụng chỉ tơ nha khoa lấy sạch mảnh vụn thức ăn ở kẻ răng.

            - Ngậm nước súc miệng có bán sẵn hoặc nước muối pha loãng.

            - Kiểm tra răng miệng định kỳ 3 tháng/lần để giải quyết những vấn đề vệ sinh mà bản thân cá nhân không thể tự làm sạch được như: làm sạch ở kẽ răng, ở mặt xa các răng hàm, ở những vùng răng giả. Không nên đợi có cao răng mới đi lấy, vì khi cao răng hình thành thì nó đã gây ra tổn thương và để lại hậu quả.

Câu hỏi 2: Lấy cao răng khi đang mang thai có được không?

Trả lời: Trong thời kỳ mang thai, lượng hoócmôn trong cơ thể bạn có rất nhiều thay đổi ảnh hưởng đến hàm răng, ngoài ra do lượng canxi bị thiếu hụt, do vậy các bệnh về răng miệng rất dễ xảy ra.

Vào đầu thai kỳ, bạn nên đến bác sĩ nha khoa để rửa răng, lấy cao răng và giữ vệ sinh răng miệng tối đa. Cần nói rõ cho bác sĩ biết tình trạng răng của bạn và bác sĩ sẽ chỉ chụp X quang chừng nào thấy thật cần thiết vì thai nhi rất nhạy cảm với tia X nhất là trong 3 tháng đầu.

Những cách xử lý răng khác có thể áp dụng trong 3 tháng tiếp theo của thai kỳ. Việc gây tê cục bộ khi xử lý răng sẽ không gây hại cho thai nhi. Tuy nhiên, một số loại thuốc có thể gây nguy hiểm. Do đó, bạn nhất thiết phải hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào.

Bạn hãy đến bác sĩ nha khoa để khám răng và nếu bị mắc các bệnh về lợi, hãy chữa triệt để.

Tóm lại, bạn đi khám và lấy cao răng không ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi, nhưng nhớ thông báo đầy đủ thông tin cho bác sĩ nha khoa.