1. Khái niệm

Bệnh ở tuỷ răng là bệnh hay gặp trong răng hàm mặt, sau bệnh sâu răng và bệnh vùng quanh răng. Bệnh thường do biến chứng từ sâu răng, tổn thương không do sâu răng như lõm hình chêm, thiểu sản, núm phụ, v.v... mà không được điều trị kịp thời, hay do biến chứng trong và sau điều trị hàn răng, những sang chấn cấp hay mạn. 

2. Nguyên nhân

Người ta chia bệnh căn của tuỷ răng thành 3 nhóm chính:

- Nhiễm khuẩn  

- Yếu tố lý học

- Yếu tố hoá học

Mỗi loại được chia ra nguyên nhân toàn thân và nguyên nhân tại chỗ. 

2.1. Nguyên nhân nhiễm khuẩn:

-        Nhiễm khuẩn toàn thân: Cúm thương hàn, có trực khuẩn Coli ở tuỷ răng sau khi bị viêm ruột thừa, trực khuẩn Hanssen ở tuỷ răng trong bệnh hủi nhưng ít gặp. 

-        Nhiễm khuẩn tại chỗ: Do sâu răng, vi khuẩn ở lỗ sâu theo ống Tomes vào tuỷ răng hoặc do một lỗ hở ở sừng tuỷ, buồng tuỷ, lõm hình chêm, rạn răng, hoặc viêm quanh răng, nhất là ở giai đoạn II, III, có thể gây viêm tuỷ ngược dòng. 

2.2. Yếu tố vật lý:

-        Toàn thân: Người đi máy bay, thay đổi độ cao hay bị đau răng. Việc thay đổi độ cao đột ngột, tăng tốc nhanh khi  đi máy bay, công nhân lặn sâu khi thay đổi áp xuất cũng có thể gây viêm tuỷ. 

-        Tại chỗ: Yếu tố cơ năng hay yếu tố nhiệt độ cao cũng có thể gây viêm tuỷ răng.  

+        Yếu tố cơ năng: Sang chấn gây sứt, mẻ răng, hay sang chấn nhẹ liên tục như khớp cắn sai, cắn chỉ, hàn cao, v.v... Trong lúc khoan, mài răng với tốc độ cao, không có nước làm lạnh hay khoan, mài răng liên tục đều có thể làm cho tuỷ bị viêm.

+        Yếu tố nhiệt: Nhiệt độ tăng giảm nhanh cũng có thể gây viêm tuỷ răng. Do nhiệt độ toả ra của vật liệu hàn răng như xi măng, nhựa tự cứng hoặc đánh bóng sau hàn cũng có thể gây viêm tuỷ.

+        Yếu tố điện: Ngưỡng kích thích điện cao khi thử tuỷ có thể dẫn tới viêm tuỷ.

2.3. Các yếu tố hoá học:

-        Toàn thân: Các bệnh đái tháo đường, bệnh gút hay nhiễm độc chì, thuỷ ngân có thể gây hoại tử tuỷ.  

-        Tại chỗ: Khi dùng các chất sát khuẩn mạnh để sát khuẩn lỗ sâu như Nitơrat bạc, Phenol, các dịch hàn thừa của xi măng, hay thuỷ ngân khi hàn amalgam bạc, đáng chú ý là khi lớp ngà còn lại giữa lỗ sâu và tuỷ càng mỏng thì ảnh hưởng của thuốc càng mạnh.

 Bảng tóm tắt nguyên nhân viêm tuỷ 

 

 

Nguyên nhân toàn thân

 

Nguyên nhân tại chỗ

 

Nhiễm khuẩn

Vi khuẩn từ máu hay bạch mạch tới tuỷ răng.

Sâu răng, rạn, mẻ, lõm hình chêm, mòn răng bệnh lý, viêm quanh răng.

 

Yếu tố vật lý

Thay đổi độ cao khi đi máy bay, thay đổi độ sâu.

 

Sang chấn mạnh, sang chấn nhẹ liên tục. Do điều trị răng, chất hàn dẫn nhiệt, gây nóng lúc khô.

 

Yếu tố hoá học

Nhiễm độc

Thuốc điều trị răng, dịch thừa của vật liệu hàn, chất sát khuẩn mạnh.

 

3. Phân loại: 

Tuỳ theo từng tác giả làm lâm sàng hay giải phẫu bệnh lý, hay theo dấu hiệu để điều trị  mà có cách phân loại khác nhau:

-        Theo tổ chức sức khoẻ thế giới ở hội nghị FDI (Liên đoàn nha khoa quốc tế, 1968 ở Bungari). Baume đã đề nghị nên phân loại theo dấu hiệu để điều trị.

 

Dấu hiệu lâm sàng

 

 

Cách điều trị

 

Loại I: Tuỷ không có dấu hiệu hở bất ngờ              khi mài hay sâu ngà sâu               

Chụp tuỷ

Loại II: Tuỷ có bệnh sử đau

Có thể thử bảo tồn tuỷ

Loại III: Tuỷ cần lấy đi.

 

Lấy tuỷ, hàn ống tuỷ sát khuẩn ống tuỷ.

Loại IV: Tuỷ thối

Lấy tuỷ, sát khuẩn, hàn ống tuỷ.

-        Baume cũng đã nghiên cứu giữa chụp X quang lỗ sâu, dấu hiệu lâm sàng, cách điều trị. Đặc biệt Baume đã đưa ra cách xử trí đối với những răng bị viêm tuỷ mà cuống chưa đóng kín. Mục đích thử bảo tồn tạm thời để cho cuống răng thành hình rồi sẽ điều trị lại lần hai (sau 6 tháng), ở trường hợp này việc điều trị tuỷ có nhiều điều khác biệt với những răng đã hoàn thiện cuống. Từ cách điều trị, quan niệm điều trị, đến cách hàn ống tuỷ, thuốc hàn ống tuỷ, đã được nhiều tác giả quan tâm. 

-        Theo Seltzer: Phân thành hai loại

Loại có thể bảo tồn tuỷ và loại cần lấy tuỷ. Về thực chất, cách phân loại này của Seltzer cũng không có gì khác với cách phân loại trên.

-        Phân loại theo dấu hiệu lâm sàng và cách điều trị: Có ba loại chính

+ Viêm tuỷ có hồi phục . 

+ Viêm tuỷ không hồi phục.

+ Tuỷ chết hay tuỷ hoại tử.  

Cách phân loại này hay được các bác sĩ nha khoa sử dụng.

4. Biến chứng

-        Viêm quanh cuống răng.

-        Rụng răng.

-        Viêm xương.

-        Viêm hạch rất nguy hại cho sức khoẻ.

5. Triệu chứng

5.1.Viêm tuỷ có hồi phục:

-        Triệu chứng người bệnh thấy: Thường sau kích thích lạnh, chua, ngọt, vẫn còn buốt một vài phút, hoặc có cơn đau tự nhiên ngắn, khoảng cách giữa các cơn thưa. 

-        Triệu chứng bác sĩ thấy: Khám thường thấy tổn thương sâu răng, lõm hình chêm hoặc thiểu sản, v.v... nhưng tổn thương chưa vào đến buồng tuỷ, kích thước lỗ sâu thường lớn, mầu sắc của răng bình thường, gõ ngang đau nhẹ, chụp phim vùng cuống răng bình thường, thử nghiệm lạnh dương tính. Ngưỡng kích thích điện thấp hơn bình thường (bình thường từ 2-6 mA) đã có đáp ứng.

-        Phân biệt với viêm tuỷ không hồi phục: Cơn đau tự nhiên kéo dài 15 phút đến hàng giờ, đau nhiều về đêm, đau lan 1/2 mặt, khoảng cách giữa các cơn ngắn. Lỗ sâu to, có thể nhìn thấy ánh tuỷ hồng qua lớp ngà, gõ ngang đau hơn gõ dọc.

-        Điều trị:

+        Mục đích: Sau khi điều trị, tuỷ răng được hồi phục và đảm nhận được các chức năng sinh lý bình thường. 

+        Nguyên tắc:

Khám và chẩn đoán chính xác tổn thương. 

Không làm tổn thương thêm tổ chức tuỷ ở dưới trong và sau điều trị.

Tạo điều kiện tốt cho tuỷ răng sau hàn được hồi phục và phát triển.

Chất hàn phải là chất trơ không độc, có kích thích tốt cho sự hồi phục và phát triển của tuỷ.       

Các bước điều trị:

- Lấy sạch ngà mủn và thức ăn. 

- Lấy hết lớp ngà mềm.  

- Bơm rửa sạch và sát khuẩn nhẹ lỗ sâu bằng cồn 700.

- Chặn nước bọt và làm khô bằng hơi hoặc cục bông.

- Hàn tạm bằng Eugenate.                               

Theo dõi:

Thời gian theo dõi từ 3-6 tháng bằng các dấu hiệu lâm sàng và thử nghiệm lạnh, ngưỡng kích thích điện. Lâm sàng theo dõi 1-2 tuần, nếu bệnh nhân không đau buốt, thì lấy bớt eugenate, tạo hình lại thân răng bằng amalgam, ximăng, composite v.v...

Tiên lượng:

Đối với viêm tuỷ có hồi phục nếu nguyên nhân được loại trừ sớm, việc tiến hành điều trị đúng cách sẽ đem lại hiệu quả tốt. Nếu sau khi nguyên nhân được loại trừ mà hiện tượng đau vẫn tái diễn thì tiên lượng xấu, lúc này phải lấy tuỷ và hàn ống tuỷ.

5.2.Viêm tuỷ không hồi phục:

Triệu chứng người bệnh thấy:

 Triệu chứng thì tương tự  như xung huyết tuỷ. Nhưng tính chất đau và mức độ đau thì có khác. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột và mất đi cũng đột ngột. Cơn đau thường kéo dài 15-20 phút đến hàng giờ. Cơn đau vẫn còn tồn tại ngay cả khi hết kích thích hoặc không cần có kích thích nào. Cơn đau thường dữ dội làm bệnh nhân rất khó chịu, không ăn ngủ được, đau có thể lan tới răng khác. Nhiều khi bệnh nhân không nhận thấy rõ ràng thực tế đau ở răng nào trên hàm, đau có thể lan cả hai hàm hay 1/2 nửa mặt, 1/2 đầu. Khoảng cách giữa các cơn đau gần. Trong một ngày xuất hiện nhiều cơn đau, bệnh nhân đau nhiều về đêm, đau tăng lên khi ở tư thế dốc đầu.  

Dấu hiệu bác sĩ khám:

Thường thấy tổn thương sâu răng lớn và sâu, đôi khi làm sạch các thức ăn, ngà mủn trong lỗ sâu, ta có thể thấy ánh hồng của tuỷ qua một lớp ngà mủn hay một điểm hở tuỷ. Nếu không có tổn thương sâu răng phải tìm tổn thương ở tổ chức cứng không do sâu răng như lõm hình chêm hay mòn răng. Ngoài ra có thể không thấy những tổn thương thông thường trên mà vẫn có những dấu hiệu của viêm tuỷ cấp, cần phải tìm nguyên nhân khác như viêm quanh răng ở giai đoạn II, III, có thể gây viêm tuỷ ngược dòng. Nếu không thấy có tổn thương nghi ngờ nào khác cần phải tìm dấu hiệu của rạn, nứt răng, nhất là ở độ tuổi từ trung niên trở lên.

Một điểm đáng lưu ý nữa là khi khám không thấy các tổn thương trên, chúng ta phải quan tâm tìm các lỗ sâu ở mặt bên, nhất là ở lứa tuổi trên 50 cần có sự phối hợp của phim X quang răng.

Phân biệt:

+        Phân biệt với viêm quanh cuống cấp: Bệnh nhân thường đau âm ỉ liên tục dữ dội, đau tăng khi va chạm vào răng đối diện, toàn thân thường có sốt cao, có phản ứng hạch tương ứng, có sưng nề ngoài da tương ứng, ngách lợi đầy, sưng, nề ấn đau, răng lung lay, gõ dọc đau hơn gõ ngang, thử nghiệm lạnh âm tính. X quang vùng quanh cuống có vùng mờ không rõ ranh giới. 

+        Phân biệt với đau dây thần kinh V: Bệnh nhân có dấu hiệu đau đột ngột khi có kích thích vào một vùng nào đó trên da mặt, đau thường lan toả cả 3 dây gọi là dấu hiệu điểm hoả. Bệnh nhân thường có rối loạn cảm giác (tăng hoặc giảm, tê bì một bên mặt, khám không thấy tổn thương ở răng miệng). 

Điều trị:

Răng viêm tuỷ không hồi phục cần lấy tuỷ, có hai cách thường được các nha sỹ ứng dụng là: Đặt thuốc diệt tuỷ sau 5- 7 ngày và gây tê tại chỗ  bằng lidocain 2%. Sau khi mở buồng tuỷ lấy tuỷ, nong rửa ống tuỷ và hàn kín ống tuỷ tới đường ranh giới xương ngà bằng pate eugenate, kim gutta percha. 

5.3.Tuỷ hoại tử:

Đây là hậu quả của quá trình viêm nhiễm, thoái hoá trong thời gian dài ở tuỷ răng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do sang chấn, các dịch của chất hàn thừa, tuỷ hở, sâu răng, lõm hình chêm, v.v... 

Triệu chứng người bệnh thấy:

Bệnh nhân không có dấu hiệu lâm sàng, thường không có đáp ứng với nhiệt độ lạnh. Nhưng có thể có đáp ứng với nhiệt độ nóng do sản sinh ra hơi tạo áp lực lên đầu mút dây thần kinh ở cuống răng.

Dấu hiệu thầy thuốc khám:

Răng đổi mầu rõ, lỗ sâu thường lớn, có khi thông với buồng tuỷ. Nếu không có tổn thương sâu cần tìm tổn thương không do sâu răng, như núm phụ, lõm hình chêm, mòn răng, hỏi tiền sử sang chấn răng v.v... 

Phản ứng với gõ (-). X quang: Dây chằng quanh cuống dãn rộng. 

Phân biệt:

Với viêm quanh cuống mạn tính, cũng có các dấu hiệu như tuỷ hoại tử nhưng có lỗ rò hay sẹo ở vùng lợi tương ứng cuống răng hoặc X quang răng có u hạt hay nang chân răng thì đó là viêm quanh cuống mạn. 

Điều trị:

Mở buồng tuỷ, nong rửa ống tuỷ, sát khuẩn ống tuỷ bằng oxy già 5- 12 thể tích, đặt bông thuốc sát khuẩn TF (Tricresol formaline) hoặc CPC (Chlorophenol camphore) vào ống tuỷ. Số lần nong rửa ống tuỷ thường 2-4 lần, khi ống tuỷ sạch thì hàn pate ống tuỷ, chụp phim răng cận chóp để đánh giá kết quả hàn ống tuỷ, nếu ống tuỷ đã được hàn tốt, sau 5-7 ngày hàn vĩnh viễn.                           

6. Chế độ ăn

Những thực phẩm tốt cho răng và lợi:

Táo: Táo giúp ngăn ngừa răng không bị sâu do chứa nhiều vitamin C và khoáng chất. Ngoài hai yếu tố này, các quả táo cũng là nguồn chất xơ rất lớn, rất tốt trong việc làm cho răng và lợi sạch.

Cá: Các loại chất đạm là những thành phần quan trọng đối với độ chắc khỏe của răng và lợi. Cá là một trong những loại thực phẩm rất giàu đạm.

Nước: Nước có công dụng giúp vận chuyển những dưỡng chất chủ yếu như canxi và các chất khác đến với các màng tế bào, các màng này có nhiệm vụ tăng cường sự khỏe mạnh cho răng và lợi. Nếu bạn không có điều kiện chải răng sau khi ăn, hãy nhớ uống nước để giữ cho răng miệng sạch.

Sữa và các thực phẩm từ sữa: Sữa là nguồn canxi lớn và tốt cho răng và lợi.

Đậu: Các loại đậu rất giàu canxi và các khoáng chất thiết yếu khác, các dưỡng chất này rất quan trọng đối với răng và lợi.

Cherry và quả nho đen: Chứa bioflavonoid giúp bảo vệ lợi không bị hư hại.

Các loại hạt: Các loại hạt như hạt bí ngô, hạt vừng, hạt hướng dương…đều rất giàu canxi, vitamin và khoáng chất, là các loại dưỡng chất tốt cho sức khỏe của răng và lợi.

Trà: Trà tốt cho răng và lợi vì chứa chất flavonoid chống sâu răng và ngăn ngừa các mảng bựa răng bám vào răng gây sâu.

Rau quả gây ra bệnh răng lợi:

Nhiều báo cáo cho biết trái cây có thể gây ra sâu và mục răng. Nguyên do là những thực phẩm này có nhiều axit làm phá huỷ men răng sau đó vi sinh vật dễ dàng thẩm thấu sâu hơn vào mô răng.

Xét theo tác dụng của nó với răng miệng, các nhà nghiên cứu chia rau quả thành 2 nhóm:

Nhóm có hại: Chuối, chà là, dứa, nho, cà chua, đậu hà lan, quả vả, sung, táo ngọt, quả lựu, cam quýt, quất, rau diếp, mùi tây, cần tây, me chua thuộc nhóm có hại cho răng do chứa nhiều carbohydrate.

Nhóm không gây hại: Dưa chuột, bắp cải và súp lơ, bí xanh, bí đỏ, cà tím, củ cải và cà rốt …không làm hại men răng.

Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu 'đoạn tuyệt' với nhóm thực phẩm đầu tiên vì chúng cũng có nhiều yếu tố có lợi cho răng miệng như làm sạch và có chứa florua.

Do đó, cách tốt nhất để bảo vệ răng là vệ sinh răng miệng sau khi ăn, đánh răng, súc miệng bằng nước đun sôi để nguội, nước súc miệng diệt khuẩn.

Ăn kết hợp cả 2 nhóm trái cây và ăn trong bữa chính, không ăn vặt. Nước trái cây nên uống bằng ống hút để tránh tiếp xúc với răng.

Không đánh răng ngay sau khi ăn và uống nước trái cây. Lúc này, lớp men răng sẽ mềm hơn dưới tác dụng của axit hữu cơ trong rau và trái cây, bàn chải sẽ làm mài mòn men răng. Các nha sĩ khuyên sau khi ăn trái cây nên đợi khoảng 30 phút, nước bọt sẽ phục hồi và cân bằng chất khoáng của răng, rồi hãy làm sạch chúng bằng bàn chải.

7. Phòng ngừa

-        Ăn đầy đủ chất bổ dưỡng, hợp lý. Thức ăn bổ cho cơ thể cũng là thức ăn bổ cho răng và lợi. Hạn chế ăn quà vặt có nhiều chất đường, bột dính.

-        Sử dụng các dạng Fluor để ngừa sâu răng.

-        Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần.

-        Nếu có bệnh viêm lợi và viêm quanh răng thì nên chữa trị ngay

-        Tránh không nhai vật cứng như xương, vỏ cua biển.

-        Chải răng ngay sau khi ăn là điều quan trọng nhất và phải thực hiện thành thói quen, suốt đời.