1. Khái niệm:

 

           Suy hô hấp là sự rối loạn nặng nề việc trao đổi oxy máu với sự giảm thật sự áp lực riêng phần của khí oxy trong máu động mạch (PaO2 <60 mmHg), áp lực riêng phần của khí cacbonic tăng (PaCO2 >50 mmHg)

           Trong thời kỳ sơ sinh suy hô hấp là 1 hội chứng rất hay gặp, nhất là trẻ đẻ non đặc biệt thường xảy ra trong những ngày đầu sau đẻ.

           Suy hô hấp sơ sinh biểu hiện sự thích nghi của phổi hoặc các cơ quan khác không được hoàn chỉnh vì bệnh lý; trẻ sơ sinh không tự cung cấp được dưỡng khí bằng 2 phổi của mình. Ngay sau sinh hoặc sau một thời gian vài giờ đến vài ngày trẻ sơ sinh có thể xuất hiện suy hô hấp khi có bất kỳ một thương tổn nào của các cơ quan có liên quan; đó là hệ hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, chuyển hóa.

 

2. Nguyên nhân:

 

           Trước khi sinh: Mẹ bị mắc các bệnh như: đái đường trong suốt thời gian mang thai, bệnh nhiễm trùng, bệnh mạn tính, nhiễm độc thai nghén.

 

           Trong khi sinh:

 

                       - Mẹ: Có các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng: chuyển dạ kéo dài, ối vỡ sớm, mẹ có sốt, nhiễm trùng ối, bị thiếu oxy, bị xuất huyết. Mẹ dùng một số thuốc trong quá trình mang thai và sinh đẻ: an thần, gây mê, giảm đau, oxytocin, dịch nhược trương, ối lẫn phân su, sinh khó.

                       - Con: Sinh thiếu tháng, ngôi thai bất thường, bất thường dây rốn, sinh can thiệp forceps, giác hút, mổ đẻ, đẻ có chấn thương, trẻ song thai thứ 2 (thường xảy ra đối với thai thứ 2), suy thai (giảm nhịp, nhịp chậm, giảm dao động nội tại tim thai, một số chỉ số sinh lý khác thấp), ngạt.

 

           Sau khi sinh: Đẻ non, nhẹ cân so với tuổi, già tháng, hạ thân nhiệt do không được giữ ấm, tăng thân nhiệt (do bọc trẻ quá kỹ, hoặc là dấu hiệu của nhiễm trùng), chậm cho bú (nguy cơ hạ đường huyết).

 

3. Dấu hiệu triệu chứng:

 

Tím tái và co mạch: Tình trạng tím tái là dấu hiệu của không bão hoà hemoglobin, có thể:

           - Khu trú (môi, đầu chi) hay toàn thân.

           - Kín đáo hay rõ ràng.

           - Liên tục hay thoáng qua.

           - Da tái có thể thấy khi trẻ có tình trạng co mạch do tác động của tăng PaCO2 hoặc nhiễm toan nặng.

Rối loạn nhịp thở: Thở nhanh > 60 lần / phút, thở chậm < 30 lần / phút ( thường xuất hiện khi bị tắc nghẽn đường thở hay khi trẻ ở giai đoạn kiệt sức), thở không đều, có cơn ngưng thở ≤15 giây và tái diễn, hoặc thở nấc, ngừng thở: có cơn ngưng thở >15 giây.

Thở gắng sức: Biểu hiện qua các dấu hiệu: Di động ngực bụng không đồng bộ, cánh mũi phập phồng, rút lõm hõm ức, co kéo liên sườn, tiếng rên.

Những dấu hiệu bất thường kèm theo:

           - Nghe phổi rì rào phế nang kém, thông khí phổi giảm và giảm di động lồng ngực, có ran.

           - Huyết áp giảm, thời gian vi tuần hoàn tăng, giảm trương lực cơ, giảm vận động.

 

4. Điều trị:

 

Cấp cứu ban đầu

           - Tư thế trẻ: Đặt trẻ ở tư thế nằm ngửa cổ thích hợp để đường thở không bị lưỡi hoặc hàm làm cản trở.

           - Hút miệng - mũi: Hút sạch dịch, đầu tiên hút ở miệng rồi hút mũi.

           - Kích thích thở: Xoa nhẹ nhàng da vùng lưng và lòng bàn chân.

           - Hô hấp hỗ trợ: Cho trẻ thở oxy qua ống thông mũi khi trẻ còn tự thở nhưng không hiệu quả hoặc bóp bóng qua mặt nạ (hay nội khí quản) khi ngưng thở.

Chuyển gấp đi bệnh viện và bảo đảm nguyên tắc chuyển an toàn trên đường đi (giữ thân nhiệt trẻ ở mức bình thường và phòng hạ đường huyết) đồng thời với thông khí hỗ trợ.

 

5. Phòng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

 

5.1 Đối với mẹ

 

- Trước sinh:

           + Hướng dẫn cho sản phụ biết chế độ dinh dưỡng nâng cao thể trạng.

           + Giáo dục vệ sinh thai nghén và quản lý thai nghén; đặc biệt các sản phụ có nguy cơ cao.

           + Phát hiện và điều trị các nguyên nhân gây đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, suy thai, ngạt chu sinh ...

- Trong sinh:

           + Tránh lạm dụng thuốc giảm đau, chỉ định quá mức dịch nhược trương và oxytocin.

           + Giúp mẹ thở tốt khi chuyển dạ, hạn chế xuất huyết.

           + Tránh kẹp rốn muộn và đảm bảo giữ trẻ ở vị trí ngang với tử cung cho đến khi kẹp dây rốn.

           + Nếu có thuốc, có thể cho người phụ nữ có nguy cơ đẻ non sử dụng Corticosteroids trước khi thai 32 tuần tuổi.

 

5.2 Đối với trẻ

 

- Bảo đảm chăm sóc và nuôi dưỡng:

           + Hút sạch dịch hầu họng cẩn thận trước khi nhịp thở đầu tiên bắt đầu.

           + Trẻ được lau khô, giữ ấm, bảo đảm thân nhiệt ổn định ngay sau đẻ.

           + Trẻ được cho bú mẹ sớm.

           + Bảo đảm khâu vô trùng, đặc biệt tại bệnh viện.

- Bảo đảm theo dõi: Để kịp thời phát hiện biểu hiện suy hô hấp.

           + Những trẻ có nguy cơ cao đều được theo dõi sát ngay sau đẻ.

           + Tất cả trẻ sơ sinh cần được khám đầy đủ và chi tiết trong vòng 96 giờ đầu sau đẻ.