I. Nguyên nhân

           Cho đến nay, nguyên nhân bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc vẫn chưa được biết một cách chính xác, cơ chế sinh bệnh lại rất phức tạp nên việc điều trị bệnh còn nhiều khó khăn và chưa có phương pháp nào giải quyết triệt để tận gốc bệnh.

    Bệnh thường xuất hiện ở những người trung niên và già (50 -70 tuổi), có các bệnh toàn thân phối hợp như tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, bệnh tim, các bệnh về máu...hoặc các bệnh lý tại mắt như glôcôm, viêm thành mạch....

II. Triệu chứng

        Tắc tĩnh mạch võng mạc gây giảm sút thị lực trầm trọng, thậm chí có thể gây mù loà do những biến chứng nặng nề. Trong số những bệnh lý mạch máu võng mạc, bệnh là nguyên nhân gây mù loà thứ  2 trên thế giới sau bệnh võng mạc tiểu đường. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của các bệnh lý toàn thân như tăng huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, các bệnh về máu... thì bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc cũng có chiều hướng tăng lên.

III. Điều trị

        Khám mắt bị bệnh, thầy thuốc phải tra dãn đồng tử để soi đáy mắt sẽ thấy hình ảnh tĩnh mạch võng mạc dãn không đều, động mạch thu hẹp, xuất huyết võng mạc nhiều làm đáy mắt đỏ rực, đôi khi thành đám lớn. Có thể có những xuất tiết bông, xốp trên võng mạc, phù võng mạc toả lan, phù hoàng điẻm, phù đĩa thị. Ở giai đoạn sau bệnh có biến chứng: phù hoàng điểm dạng nang, tân mạch đĩa thị, tân mạch mống mắt, tân mạch góc tiền phòng  hoặc glôcôm tân mạch, xuất huyết dịch kính, teo thần kinh thị giác gây mù loà cho người bệnh.

    Khi người bệnh được phát hiện có tắc tĩnh mạch võng mạc phải được chuyển đến cơ sở chuyên khoa Mắt có các xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh ( chụp mạch ký huỳnh quang võng mạc, chụp cắt lớp võng mạc...) và có máy LADE để điều trị bệnh. Chụp mạch ký huỳnh quang võng mạc để xác định hình thái bệnh giúp cho thầy thuốc quyết định  phương pháp điều trị bằng lade hay theo dõi.

       Ở hình thái thiếu máu võng mạc, người bệnh cần được làm lade võng mạc ngay vì các biến chứng như tăng sinh tân mạch, chảy máu dịch kính...xảy ra rất sớm, chỉ trong vòng 3 tháng kể từ khi bị bệnh ( thiên đầu thống 100 ngày). Điều trị bệnh bằng lade làm giảm nguy cơ xuất hiện biến chứng glôcôm ( thiên đầu thống) tân mạch, là biến chứng gây mù loà, thậm chí người bệnh có thể phải bỏ mắt do đau nhức quá. Một vài năm gần đây, ở giai đoạn bệnh đã có biến chứng tân mạch mống mắt, glôcôm tân mạch hay chảy máu dịch kính, bệnh nhân được tiêm một loại thuốc chống chuyển hoá (Bevacizumab, Ranibizumab) vào trong mắt nhằm mục đích tiêu máu, tiêu tân mạch chống sự hình thành chất tăng sinh tân mạch. Tuy nhiên thuốc này rất đắt và bệnh nhân phải tuân thủ theo lời dặn của thầy thuốc, sau khi tiêm bệnh nhân vẫn phải được điều trị lade võng mạc tránh bị chảy máu lại.

       Ở hình thái không thiếu máu chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, người bệnh được theo dõi sát sự thoái triển tự nhiên của bệnh, phát hiện và điều trị lade kịp thời nếu bệnh chuyển sang hình thái thiếu máu. Khi phù hoàng điểm kéo dài trên 3 tháng, thị lực giảm nhiều, thầy thuốc cũng có thể áp dụng lade vùng hoàng điểm để giảm phù nhưng thị lực thường ít được cải thiện hoặc bệnh nhân được tiêm nội nhãn Coctison, tuy nhiên nhiều tác dụng phụ của thuốc như glôcôm, đục thể thuỷ tinh hoặc viêm nội nhãn cũng đã được cảnh báo.

       Ngoài ra, bệnh nhân còn được chụp cắt lớp võng mạc ( OCT ) để theo dõi tiến triển của bệnh và đánh giá hiệu quả của điều trị, đo điện võng mạc để tiên lượng bệnh chuẩn bị xuất hiện biến chứng hay chưa?

    Cho đến nay, nguyên nhân bệnh tắc tĩnh mạch võng mạc vẫn chưa được biết một cách chính xác, cơ chế sinh bệnh lại rất phức tạp nên việc điều trị bệnh còn nhiều khó khăn và chưa có phương pháp nào giải quyết triệt để tận gốc bệnh. Các thuốc uống chủ yếu chỉ giảm một phần các tổn thương như TAM THẤT để tiêu máu, giảm phù nề, AMITAESE giảm phù nề... nhưng  không ngăn ngừa được biến chứng gây mù loà của bệnh. Điều trị bệnh bằng phẫu thuật như rạch gai thị hình nan hoa, phẫu thuật vào bao xơ chung động – tĩnh mạch võng mạc, dùng laser cao tần nối thông mạch hắc – võng mạc... mới được ứng dụng trên thế giới từ năm 2002, có nhiều tai biến, hiệu quả điều trị thấp và chưa có báo cáo kết quả ở Việt Nam.

    Do bệnh có liên quan đến bệnh lý toàn thân nên người bệnh phải được gửi đi các bệnh viện đa khoa khám tổng thể nhằm phát hiện và điều trị ổn định các bệnh toàn thân như tăng huyết áp, bệnh tiểu đường hay rối loạn mỡ máu, các bệnh về máu...hoặc phát hiện và điều trị các bệnh lý phối hợp tại mắt. Đây là khâu hết sức quan trọng nhằm điều trị tận gốc của bệnh. Người bệnh cần phải đi khám toàn thân ở những cơ sở y tế có đủ các phương tiện xét nghiệm phát hiện bệnh. Khi phát hiện có bệnh toàn thân cần phải tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị bệnh toàn thân phối hợp với điều trị tại mắt. Tuy nhiên, nếu bệnh xuất hiện ở người trẻ thì tiên lượng thường tốt, thị lực hầu như không thay đổi, bệnh sẽ tự thoái triển.

    Do tính chất bệnh nặng nề, thị lực giảm nhiều mà điều trị chỉ giúp  ngăn ngừa biến chứng, ít có tác dụng tăng thị lực nên người bệnh không nên bi quan, kiên trì theo dõi nếu ở hình thái không thiếu máu vì có đến 20%  số bệnh nhân ở hình thái này có thể chuyển sang hình thái thiếu máu gây biến chứng mù loà.