1. Khái niệm:

           Bỏng mắt là một trong những cấp cứu nhãn khoa và cũng là một trong những nguyên nhân gây mù lòa hoàn toàn và gây biến dạng gương mặt về mặt thẩm mỹ. Bỏng chủ yếu do tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt. Điều trị bỏng mắt cần xử trí khẩn trương, đúng đắn thì mới có thể bảo tồn được chức năng của mắt. Tiên lượng mắt bị bỏng phụ thuộc rất nhiều vào cách xử trí cấp cứu ban đầu.

2. Nguyên nhân:

           - Bỏng giác mạc do dầu ăn, mỡ nóng văng vào mắt trong khi rán thức ăn như cá, thịt…

        - Bị lửa gas bùng lên do bất cẩn khi sử dụng bếp gas mi-ni hoặc dùng bình gas cũ chiết xuất không đúng quy cách gây bỏng mát.

        - Để lẫn lộn thuốc nhỏ mắt, dầu nóng, thuốc bôi ngoài da cùng một chỗ, gây nhầm lẫn khi sử dụng.

        - Không đeo kính bảo vệ mắt nên bị các dung dịch tẩy rửa như xà phòng diệt khuẩn, các chất tẩy rửa cực mạnh bắn vào mắt.

        - Ngoài ra còn các trường hợp bị vôi, a-xít, tia lửa hàn điện… bắn vào mắt gây hậu quả nghiêm trọng. Việc nhìn trực tiếp vào mặt trời cũng có thể dẫn đến việc bỏng hoàng điểm.

3. Biểu hiện:

           Đau dữ dội, đỏ mắt, chảy nước mắt sống, sợ ánh sáng, sưng phù mi và co quắp mi là những triệu chứng thường gặp và giảm đi sau khi được rửa nước. Đối với trường hợp bỏng kiềm bệnh nhân có thể bị tăng nhãn áp tức thời.

4. Xử trí:   Trước tiên, cần loại trừ nguyên nhân gây bỏng, sau đó dùng thuốc giảm đau, chống nhiễm khuẩn, chống dính và chống thiếu dinh dưỡng giác mạc.

4.1 Xử trí tại chỗ:

           - Trường hợp bỏng mắt do nhiệt như lửa gas, tia hàn điện, nên dùng một chiếc khăn sạch thấm nước hoặc ướp lạnh đắp lên mắt để giảm độ nóng do vết bỏng gây nên.

           - Trường hợp bỏng vôi sống, trước khi rửa phải lấy hết vôi bám kết mạc sau đó rửa mắt.

        - Nếu bỏng mắt do hoá chất, phải rửa mắt ngay lập tức. Nếu không có dung dịch rửa mắt chuyên biệt (nước muối sinh lý NaCl 0,9%), có thể dùng nước máy hay nước đun sôi để nguội để rửa mắt.

Cách rửa như sau: Dùng một bát sạch đựng nước, ghé mắt bị thương vào, chớp mắt liên tục. Ngoài ra, cũng có thể ghé mắt vào vòi nước máy đang chảy trong ít nhất mười phút. Rửa càng lâu, càng liên tục càng tốt, vì hoá chất ở lâu trong mắt sẽ gây nhiều tổn thương.

        - Trong trường hợp bỏng nặng, nên rửa mắt liên tục đến khi được chuyển đến bệnh viện chuyên khoa mắt.

        - Khi có dị vật bắn vào mắt trong quá trình tai nạn xảy ra như nổ bình gas, bình ắc-quy, nếu có thể, nên lấy chúng ra bằng các dụng cụ vệ sinh và an toàn.

        - Khi bỏng mắt sẽ rất đau và cộm, khó mở mắt, nhưng nên cố gắng mở mắt to để hoá chất có thể dễ dàng thoát ra ngoài.

           Sau đó, cần nhanh chóng che mắt lại và đến cơ sở y tế có chuyên khoa mắt gần nhất.

4.2 Xử trí tại bệnh viện:

Có 3 giai đoạn điều trị:

Giai đoạn cấp cứu:

        Rửa mắt, rửa nhiều nước, nhiều lần, mỗi lần rửa ít nhất 15-30 phút. Dung dịch để rửa mắt là nước muối sinh lý, dung dịch ringer hoặc nước sạch sẵn có tại nơi xảy ra tai nạn.

        Rửa các túi cùng, lấy hết dị vật nếu có. Mục đích rửa mắt là làm loãng chất gây bỏng và giảm độc tố chất gây bỏng. Vì vậy phải bộc lộ cùng đồ rộng bằng hai vành mi, lấy dị vật bằng panh.

        Nhỏ thuốc: Giãn đồng tử, kháng sinh.

        Cấp thuốc cho bệnh nhân tra mắt liên tục trong ngày kèm thuốc giảm đau.

        Chọc tiền phòng: Được áp dụng với bỏng kiềm nặng. Chọc tiền phòng nhằm thay đổi độ pH của thủy dịch đề phòng đục thể thủy tinh thứ phát và viêm màng bồ đào, tổn thương góc tiền phòng. Sau khi chọc tiền phòng, bơm dung dịch nước muối 0,9% hoặc dung dịch ringer.

Giai đoạn 2: Điều trị phục hồi.

        Chú ý đề phòng: Nhiễm trùng thứ phát, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp, điều trị chủ yếu để lớp biểu mô giác mạc tái tạo tránh loét, thủng giác mạc. Sau bỏng nhiễm trùng thứ phát hay gặp, vi khuẩn gram (-) luôn luôn có mặt tại vết thương.

        Dùng kháng sinh có phổ rộng, nhỏ mắt nhiều lần/ngày.

        Kháng sinh uống kết hợp:

        Corticosteroid: Tác dụng chống viêm màng bồ đào, dừng quá trình phát triển tân mạch vào giác mạc trong 2-3 tuần đầu sau bỏng.

        Atropin 1%: Tác dụng chống viêm, chống dính. Nếu tăng nhãn áp uống acetazolamide. Giai đoạn này chủ yếu là tái tạo biểu mô giác mạc.

        Chống men collagenase: Thường dùng acestylcysteine 10% trong tuần đầu bỏng. Ngoài ra còn có EDTA, calcique và pennicillamine, medroxy-progesteron có hoạt động ức chế men collagenase bởi một cơ chế không rõ ràng.

        Tiêm máu tự thân: Tác dụng tăng cường dinh dưỡng giác mạc.

        Kính tiếp xúc: Có thể dùng sau vài tuần để bảo vệ lớp biểu mô và mô nhục, giúp lớp biểu mô tái tạo nhanh.

        Hằng ngày tách dính cùng đồ và hướng dẫn bệnh nhân tập vận động nhãn cầu, không được băng mắt.

Điều trị phẫu thuật:

        Ghép giác mạc trong giai đoạn bỏng còn gọi là ghép giác mạc nóng: Kết quả kém vì ghép trên nền tổ chức hoại tử vô mạch.

        Ghép kết mạc hoặc niêm mạc môi vùng rìa nếu kết mạc hoại tử rộng.

        Ghép lớp giác mạc chỉ áp dụng khi không còn phản ứng viêm.

        Ghép da khi mất tổ chức da và dưới da rộng.

        Nếu tăng nhãn áp kéo dài cần mổ cắt bè.

        Phủ tenon phần trước nhãn cầu chỉ định bỏng độ 4. Mục đích sử dụng hệ thống mạch máu lấy từ hốc mắt để tái thiết lập hệ thống mạch máu mới nuôi dưỡng vùng rìa và bảo vệ giác mạc khỏi hoại tử khi lớp biểu mô chưa tái tạo.

Giai đoạn 3: Điều trị di chứng.

        Những di chứng thường gặp đó là: sẹo giác mạc, cạn dính cùng đồ, dính mi cầu, hở hếch mi do sẹo co kéo.

        Những di chứng này thường được điều trị bằng phẫu thuật như: tách dính cùng đồ kết hợp vá kết mạc, niêm mạc miệng hoặc vá màng rau thai, ghép giác mạc, vá da tạo hình mi.

5. Phòng bệnh:

        Giáo dục ý thức phòng chống tai nạn bỏng mắt cho tất cả mọi người.

        Đối với những người làm nghề có nguy cơ bỏng cao phải được trang bị đồ dùng bảo hộ lao động (kính bảo hộ) và chấp hành tốt các nội quy quy định về an toàn lao động.

        Cải thiện điều kiện làm việc: nơi làm việc phải thoáng khí, đủ ánh sáng, đủ rộng, không quá chật chội.

           Tổ chức tuyển sơ cứu, cấp cứu và xử trí tốt từ cơ sở lên đến tuyến trên. Cần phải chẩn đoán, xử trí kịp thời trong giai đoạn cấp cứu.