1. Khái niệm

           Là một bệnh lý bỏng đặc biệt có tỷ lệ tử vong cao. Tác nhân gây tổn thương cơ quan hô hấp (respiratory burn) hoặc nạn nhân thở hít các khói khí nóng và các sản phẩm hoá học hình thành từ các chất bị cháy (inhalation injury, smoke injury).

2. Nguyên nhân

           Do nạn nhân hít phải tác nhân gây bỏng như lửa, khí nóng, hơi nước nóng, các sản phẩm hóa học hình thành từ chất cháy gây tổn thương cơ quan hô hấp. Cũng có thể gặp bỏng đường hô hấp do các chất lỏng nóng hoặc hóa chất lỏng.

Hoàn cảnh hay gặp bỏng hô hấp là khi bỏng lửa cháy, bỏng do các vụ nổ.

3. Triệu chứng

-        Khó nuốt, khó nói, cảm giác khó chịu ở cổ họng, nền lưỡi

-        Nói khó do phù nề dây thanh âm, thậm chí mất giọng.

-        Ho khan những ngày đầu, những ngày sau ho có đờm đen màu bồhồng, hoặc ho có bọt lẫn các tia máu.

-        Lông mũi bị cháy.

-        Khám mũi họng thấy: niêm mạc miệng, mũi, hầu họng, thanh quãn xung huyết đỏ. Trên nền các vùng xung huyết có các màng tơ huyết trắng xám. Lưỡi phù nề, phù thanh hầu và dây thanh âm.

-        Bỏng sâu có thể thấy đám hoại tử màu trắng bệch trên niêm mạc.

-        Tăng tiết đờm dãi ở đường khí đạo.

-        Hội chứng suy hô hấp cấp do phù nề thanh môn, phù nề niêm mạc khí phế quản. Khó thở tăng dần, thở nhanh nông, nghe phổi có thể thấy rì rào phế nang giảm, ran rít, ran nổ. Toàn thân tím tái, kích thích vật vã.

-        Có thể kèm theo hội chứng sang nổ, hội chứng nhiễm độc CO, CO2, nhiễm độc các sản phẩm trong khói, hóa chất.

4. Chẩn đoán

Ngoài dựa vào các triệu chứng các bác sỹ sẽ làm các xét nghiệm sau:

-        Khám mũi họng

-        X – quang phổi

-        Xét nghiệm máu

5.  Phân loại các mức độ bỏng đường hô hấp

Có ba mức độ: nhẹ, vừa, nặng

-        Nhẹ: giọng nói bình thường, rối loạn hô hấp nhẹ, không có tím tái, ít bị biến chứng phế viêm hoặc nếu có cũng diễn biến không nặng và khỏi.

-        Vừa: giọng nói khàn, rối loạn hô hấp nặng, tím tái, nghe phổi có tiếng thở thô, có rên rít, rên khô. Thường có biến chứng viêm phổi và diễn biến khá nặng. Suy hô hấp và suy tim mức độ I, II, tiên lượng dè dặt.

-        Nặng: Giọng nói khàn nặng, khó thở nặng, có thể có hiện tượng tắc thở, tím tái, tĩnh mạch cổ nổi, ho khàn hoặc có đờm đặc, suy hô hấp và suy tim cấp nặng. Khí phế thũng, xẹp phân thuỳ phổi, hoại tử. Tiên lượng rất nặng, ở giai đoạn tận cùng thường thấy phù phổi cấp.

6. Biến chứng

-        Các biến chứng: viêm mủ khí phế quản, viêm phổi thường gặp từ ngày thứ 3 trở đi. Có trường hợp có biến chứng ap xe phổi.

-        Tử vong ở bỏng đường hô hấp thường gặp nhiều nhất là trong những ngày đầu sau bỏng. Tử vong do biến chứng viêm phổi thường từ ngày 3-20 sau bỏng. Trong thời kỳ này, bệnh nhân còn tử vong do biến chứng nhiễm khuẩn toàn thân (thường do trực khuẩn gram âm mà trực khuẩn mủ xanh là hàng đầu). Tiên lượng  bỏng đường hô hấp còn phụ thuộc vào diện tích bỏng của cơ thể.

-        Tỷ lệ tử vong trong 24-48 giờ sau bỏng đường hô hấp và tổn thương do thở hít khói khí có thể cao tới 50% hoặc hơn tuỷ theo mức độ tổn thương nặng của cơ quan hô hấp

7.  Điều trị

-        Bỏng đường hô hấp đơn thuần rất hiếm khi xảy ra, nếu đơn thuần chỉ có thể là tổn thương do hít phải khí, khói độc. Trên lâm sàng, hay gặp bỏng da kết hợp với bỏng đường hô hấp. Đây là một thể bỏng rất nặng và hay gặp, nhất là trong thời kỳ hiện đại hoá và công nghiệp hoá của đất nước hiện nay. Kết quả đìêu trị bỏng đường hô hấp còn rất hạn chế, tỷ lệ tử vong rất cao (tới 50%) tuỳ mức độ. Các bước tiến hành cụ thể là.

-        Nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi nơi bị nạn, khẩn trương loại bỏ tác nhân, đưa nạn nhân ra chỗ thoáng khí, vận chuyển tới cơ sở điều trị gần nhất.

Tại cơ sở điều trị:

-        Lấy bỏ hết dị vật, dịch tiết (nếu có) ở mũi miệng, đường thở

-        Cho thở oxy 100%.

-        Nằm tư thế Fowler

-        Cho thuốc an thần, trấn tĩnh, giảm đau (loại không ức chế hô hấp)

-        Rạch hoại tử bỏng sâu, nguy cơ gây chèn ép vùng cổ, ngực

-        Truyền dịch: Đảm bảo số lượng nước tiểu tối thiểu là 30-50ml/h ở người lớn và 0,5-1ml/kg/h ở trẻ em dưới 30 kg.

-        Trợ tim: Nên sử dụng dobutamin

-        Khí dung

-        Nên đặt ống nội khí quản và mở khí quản sớm khi có dấu hiệu khó thở. Thông khí nhân tạo là một biện pháp bắt buộc trong bỏng hô hấp.

-        Hút qua ống nội khí quản và canuyn nội khí quản được tiến hành thường xuyên, có vai trò quan trọng trong việc lấy bỏ dịch tiết, các mảnh niêm mạc nhỏ bong ra trên đường hô hấp.

-        Nội soi khí phế quản bằng ống mềm là biện pháp xác định chẩn đoán và điều trị tốt nhất, qua nội soi bơm rửa, hút, lấy bỏ các mảnh niêm mạc lớn hoặc các mảnh hoại tử đã bong ra, tránh gây xẹp hoặc apxe phổi.

-        Kết hợp vật lý trị liệu rất quan trọng: Tập thở hàng ngày, vỗ rung, tập vận động sớm.

-        Kiểm soát nhiễm khuẩn hô hấp, tránh nhiễm khuẩn bệnh viện bằng dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Các thao tác can thiệp trên đường thở bảo đảm vô khuẩn tuyệt đối