1. Viêm phổi bã đậu lao

-        Viêm phổi bã đậu lao, lao kê, phế quản phế viêm lao là 3 thể lao phổi cấp tính, cần phải phát hiện sớm, chữa sớm, tích cực phối hợp nhiều thuốc kháng sinh. Viêm phổi bã đậu lao nếu không chữa kịp thời thì tử vong trong vòng 4-6 tuần lễ.

-        Thể lao này hiện nay hiếm gặp. Bệnh thường xảy ra các tháng tiếp theo sơ nhiễm lao do hít một lượng lớn trực khuẩn lao từ bên ngoài hay ổ lao tiềm tàng ở cơ thể tái hoạt động (hạch lao nhuyễn hóa, hang lao vỡ vào phế quản sau khi khái huyết, trực khuẩn lao từ ruột ổ lao sơ nhiễm lan theo đường máu hay bạch huyết).

-        Bệnh thường gặp ở người có sức đề kháng cơ thể kém: mắc cúm, ho gà, sởi... lao động mệt mỏi, thai nghén, nhiễm HIV/AIDS. Do đó viêm phổi bã đậu lao hay gặp ở trẻ em đặc biệt ở trẻ nhỏ (dưới 2 tuổi), thanh thiếu niên.

2. Viêm phổi bã đậu lao diễn biến qua 2 giai đoạn

Giai đoạn ban đầu

Chẩn đoán dễ nhầm với viêm phổi thông thường nhưng biểu hiện lâm sàng nặng hơn:

-        Đau ngực bên phổi viêm; khó thở dữ dội hơn, môi tím tái, vẻ mặt xanh xao không ửng đỏ, không mụn rộp ở môi như viêm phổi thông thường. Sốt  cao hơn 40oC, buổi sáng nhiệt độ giảm, rét run, sốt dai dẳng nếu lấy nhiệt độ hằng ngày sẽ thấy đường biểu diễn nhiệt độ không đều, mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ, mệt lả. Ho đờm nhày trắng; hiếm gặp ho ra máu.

-        Thăm khám lâm sàng: Các triệu chứng lâm sàng mơ hồ trái ngược với các dấu hiệu mô tả ở trên. Xét nghiệm đờm BK thường âm tính (-), nếu làm nhiều đôi khi kết quả dương tính (+).

-        Chụp phổi: hình mờ tương đối đồng đều chiếm một phần bên thùy, phân thùy phổi, thường ở thùy trên đôi khi ở đáy phổi.

Giai đoạn bã đậu hóa

-        Sau 8-10 ngày người bệnh không thuyên giảm, trái lại nặng hơn. Thể trạng bệnh nhân suy sụp, mệt lả, kiệt sức, không thể ngồi dậy được, sút cân nhanh, kém ăn, nhiệt độ dao động mạnh, mô hôi đầm đìa, đau ngực dữ dội, ho khan từng cơn, dai dẳng, đờm ít, khó thở ngày càng tăng hơn, khái huyết vẫn hiếm gặp.

-        Xét nghiệm đờm: BK vẫn còn âm tính; số lượng bạch cầu < 12.000-15.000. Hình ảnh quang phổi: vẫn còn nghi ngờ chưa rõ hình hang.

Giai đoạn thành hang (nhuyễn hóa)

-        Sau 10-15 ngày: Sốt cao, dao động, dai dẳng; khó thở dữ dội tăng hơn; đờm ngày càng nhiều, màu xanh, lổn nhổn như mủ, đờm khạc ra hình tròn (in khuôn hình hay lao ở phổi). Khái huyết xuất hiện; Nghe phổi: vùng phổi viêm có ran ẩm to hạt, tiếng thổi hang (người bệnh có thể tự cảm thấy); Xquang phổi: mờ đậm cả một thùy phổi, ở giữa đám mờ có các bóng sáng, hình hang to hoặc nhiều hang nhỏ; Xét nghiệm đờm có BK, dễ phát hiện với kỹ thuật nhuộm soi đờm trực tiếp.

-        Trước thời kỳ kháng sinh lao, hoặc điều trị không kịp thời bệnh nhân thường chết sau 4-6 tuần lễ do cơ thể suy kiệt rất nhanh, lao lan tỏa 2 phổi, lao kê hoặc biến chứng “ho ra máu sét” (ho ra máu đột ngột chết rất nhanh trong vòng vài phút với bệnh cảnh lâm sàng ngạt thở cấp, chân tay chới với, giãy dụa, són đái...). Ngày nay mặc dù có nhiều kháng sinh lao mạnh nhưng tiên lượng bệnh còn dè dặt, bệnh thường tiến triển thành lao phổi mạn tính (lao phổi loét bã đậu) hoặc trực khuẩn lao theo đường máu đến các cơ quan khác làm bệnh trầm trọng hơn.

3. Viêm phổi lao trong quá trình tiến triển bệnh lao

Bệnh lao phổi tiến triển bằng từng đợt viêm phổi, giữa các đợt viêm phổi bệnh tưởng chừng như khỏi, nhưng nhiệt độ không trở lại bình thường, làm việc chóng mệt, ho thủng thẳng, đờm ít, khi cơ thể suy yếu như lao động quá sức... đợt viêm phổi mới lại xuất hiện, sốt cao vừa phải (37,5oC-38oC) ho khạc đờm, chụp phổi: tổn thương mới thâm nhiễm một phân thùy, thường xuất hiện trên nền tổn thương lao phổi mạn tính. Nhưng đặc biệt các triệu chứng lâm sàng không rầm rộ như viêm phổi bã đậu. Sau mỗi đợt tiến triển viêm phổi bệnh càng nặng thêm, tổn thương lao lan tỏa rộng ra, khó thở nhiều hơn, cuối cùng chết vì cơ thể suy kiệt, suy hô hấp hay biến chứng ho ra máu, tràn khí màng phổi...

4. Điều trị

Phế lao viêm (bao gồm viêm phổi bã đậu, viêm lao trong đợt tiến triển của bệnh lao) là một thể rất nặng, cần phải phát hiện sớm, chữa sớm tích cực phối hợp 4-5 loại thuốc (theo công thức thuốc chống lao) với sự giám sát chặt chẽ của thầy thuốc chuyên khoa lao và nếu bệnh không thuyên giảm cần phải phát hiện hiện tượng vi khuẩn lao kháng thuốc.