1. Khái niệm:

     Phù phổi cấp tính là cấp cứu nội khoa, do sự thấm, thoát nhanh, đột ngột của dịch ở tổ chức phổi, huyết tương hoặc máu từ hệ mao mạch chức năng của phổi vào phế nang, phế quản gây ra tình trạng suy hô hấp cấp tính và suy tim trái cấp tính.

     Phù phổi cấp tính có thể gặp ở tất cả các khoa lâm sàng, từ 1-5% trong tổng số cấp cứu nội khoa ở bệnh viện.

     Tiên l­ượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguyên nhân gây ra và mức độ bệnh: nhẹ, trung bình, nặng, mức độ tăng của áp lực trung bình ở động mạch phổi, mức độ suy hô hấp cấp tính, mức độ suy tim trái cấp tính, trình độ hiểu biết bệnh sinh và tổ chức cấp cứu...

 

2. Nguyên nhân

     Có 2 loại:

      - Phù phổi cấp do rối loạn huyết động: trong các bệnh tim có suy tim trái như hẹp van 2 lá, hở van động mạch chủ, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp khi truyền dịch quá nhiều.

      - Phù phổi cấp do tổn thương màng phế nang - mao mạch: chất độc chiến tranh, hơi độc công nghiệp như khí nitơ, khí sulfuric, ammoniac, carbon oxy, nhiễm khuẩn nặng, bỏng rộng …

 

3. Triệu chứng

      - Khó thở  đột ngột, dữ đội, hai thì, nhịp thở nhanh nông 40 – 60 lần/phút. Bệnh nhân không thể nằm được, phải ngồi dậy cuối đầu ra trước để thở. Trạng thái vật vã hoảng hốt, mặt tái nhợt, môi và các đầu chi tím, vã mồ hôi lạnh.

      - Lúc đầu còn ho khan, khạc đờm trắng, sau ho khạc nhiều bọt màu hồng, có khi bọt hồng trào ra mũi và miệng.

      - Mạch nhanh nhỏ khó bắt, huyết áp lúc đầu tăng sau giảm và kẹt. Nghe phổi lúc đầu có thể thấy ran rít, ran ngáy nhưng chủ yếu là các ran ẩm, ran nổ nhỏ hạt ở cả 2 bên, tăng dần lên khắp 2 trường phổi như “triều dâng”.

 

4. Xử trí

      - Đặt bệnh nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi hoặc ngồi, hai chân thõng xuống dưới gường để làm giảm trọng lượng máu trở về tim. Có thể băng garô tĩnh mạch ở 2 gốc chi dưới, cứ 15 phút lại tháo băng từng chi một (chú ý không phải là garô động mạch).

      - Hút đờm dãi, cho thở ôxy qua cồn, lưu lượng 2 – 4 lít/phút.

      - Làm giảm áp lực tiểu tuần hoàn:

         + Lasix 20 mgx1 - 2 ống tĩnh mạch để gây lợi tiểu mạnh, sau 5-10 phút tiêm nhắc lại nếu vẫn còn khó thở.

         + Nitroglycerin 0,5mg x 1 viên ngậm dưới lưỡi hoặc xịt Nitromint spray vào miệng 1 - 2 nhát để làm giãn tĩnh mạch ngoại vi giảm lượng máu về tim.

         + Morphin 0,01g x1 ống tiêm dưới da (không chỉ định khi có bệnh phổi –phế quản mạn tính, suy hô hấp, rối loạn ý thức, tụt huyết áp) để làm giảm tình trạng thở nhanh, giảm hoảng hốt, vật vã, rối loạn vận mạch …

      - Trợ tim: Uabain 0,25mg x1 ống hoặc Isolanid 0,4 mg x 1 ống tiêm tĩnh mạch.

      - Chống co thắt phế quản: Aminophyllin 0,24 pha trong 20ml dung dịch glucose 5% tiêm tĩnh mạch rất chậm.

      - Nếu huyết áp tăng quá cao >=200/ >=70mmHg dùng viên nang Adalat nhỏ 3 giọt vào dưới lưỡi.

      - Nếu có truỵ mạch: Truyền tĩnh mạch Noadrenalin 4mg pha trong 500ml dung dịch glucoga 5% hoặc Dopamin 200mg pha trong 250ml dung dịch glucoga 5% đưa huyết áp lên đến >= 100/ 70mm Hg.

       Sau đó, căn cứ vào nguyên nhân gây phù phổi cấp tính mà xử trí tiếp.

5. Điều kiện chuyển tuyến sau

      - Bệnh nhân qua cơn cấp tính, tạm thời ổn định: Đỡ khó thở, mạch đều rõ, huyết áp tối đa >90 mmHg có thể chuyển bệnh nhân về tuyến sau. Vừa hồi sức vừa chuyển.

      - Nếu bệnh nhân vẫn còn nặng, điều kiện vận chuyển khó khăn, phải mời tuyến sau lên chi viện.

 

6. Hỏi đáp

Hỏi: Tại sao xử lý phù phổi cấp lại cho bệnh nhân thở oxy qua cồn mà không phải qua nước?

Đáp: Thực tế trong điều trị phù phổi cấp cho bệnh nhân thở oxy qua cồn và nước đều được. Nhưng thở oxy qua cồn thì tốt cho bệnh nhân hơn do bệnh nhân đang bị phù phổi cấp dùng cồn thì vừa để tạo hơi ẩm cho bệnh nhân thở dễ dàng hơn (cồn bay hơi nhanh hơn nước) vừa có tính sát khuẩn.(theo bs Bệnh viện đa khoa Trí Đức)