1. Định nghĩa

    Bệnh học đông máu bao gồm những rối loạn về chảy máu (hemorrhagic disorders) và rối loạn đông máu (thrombotic disorders). Trong rối loạn chảy máu, máu không đông đủ nhanh dẫn đến việc mất máu kéo dài, mất máu quá nhiều. Trong rối loạn đông máu, máu đông quá nhanh và hình thành nên những cục máu đông trong tĩnh mạch và động mạch.

2. Nguyên nhân

    Những rối loạn về máu có thể là do di truyền, cũng có thể là hậu quả của những bệnh tật khác hoặc cũng có thể do dược phẩm gây nên. Bệnh di truyền phổ biến là bệnh máu khó đông (haemophilia) và bệnh Von Willebrand (rối loạn xuất huyết do các yếu tố đông máu bị thiếu hoặc hoạt động kém hiệu quả), thiếu vitamin K, ung thư gan, các bệnh về gan như là viêm gan, xơ gan, các loại ung thư di căn tới gan, chẳng hạn như ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tụy tạng.

    Việc sử dụng dược phẩm cũng gây ra bệnh máu khó đông, nhất là các loại kháng sinh và các loại thuốc chống đông máu (anticoagulant medications), các loại thuốc kháng ung thư như các loại thuốc ức chế angiogenesis có tác dụng ngăn chặn sự tăng trưởng và phát triển của việc tạo ra những mạch máu mới. Những loại dược phẩm quen mặt bao gồm bevacizumab (Avastin) và sorafenib (Nexavar).

    Giảm tiểu cầu, một mức độ thấp bất thường của tiểu cầu trong máu gây ra bởi một số bệnh ung thư (ung thư bạch cầu và u lympho), hóa trị liệu và một số bệnh ung thư khác, chứng thiếu máu..., tất cả những yếu tố trên đều dẫn tới máu khó đông.

    Những nguyên nhân gây rối loạn đông máu bao gồm rối loạn yếu tố V Leiiden (là một gien cần thiết trong việc đông máu). Những người bị khiếm khuyết gien này thường có tần suất bị rối loạn đông máu cao hơn.

    Những người thiếu một loại protein gọi là protein C, những người bị thiếu hụt antithrombi III cũng sẽ bị những rối loạn về đông máu. Những loại ung thư tuyến (adenocarcinoma) bao gồm ung thư thực quản và ung thư tử cung cũng gây ra những rối loạn đông máu.

    Dược phẩm gây ra rối loạn đông máu bao gồm một số thuốc tránh thai, một số thuốc kháng ung thư như tamoxifen.

3. Triệu chứng

    Những bệnh nhân bị rối loạn xuất huyết (rối loạn chảy máu) có thể gặp những triệu chứng như sau: một vết đứt da nhỏ cũng gây chảy máu nhiều, những vết bầm tím không do ngoại lực tác động, dưới da xuất hiện nhiều đốm tím hoặc đỏ, thời kỳ kinh nguyệt kéo dài lâu hơn bình thường và xuất huyết nhiều hơn, nôn mửa có máu, phân thải có máu, nước tiểu màu đỏ hồng, chảy máu nướu răng...

    Triệu chứng phổ biến của rối loạn đông máu là chứng huyết khối (thrombosis), thường xảy ra ở tĩnh mạch gây suy tĩnh mạch, thấy rõ nhất là những “dây điện” chằng chịt ở chân, đùi,... kèm theo đau dữ dội, sưng đỏ. Nghiêm trọng hơn là nếu rối loạn đông máu xảy ra ở phổi gây đau ngực, hơi thở ngắn. Riêng sự rối loạn đông máu ở động mạch càng nguy hiểm hơn có thể gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ và làm tổn thương các cơ quan khác.