I. Khái niệm

    Nhiễm sắc thể là một cấu trúc có tổ chức của ADN và protein nằm trong các tế bào. Đó là một phần đơn lẻ của chuỗi ADN, có chứa nhiều gen, cấu trúc quy định và các trình tự nucleotit  khác.

    Nhiễm sắc thể khác nhau giữa các sinh vật khác nhau. Nhiễm sắc thể là vật liệu di truyền ở cấp độ tế bào, có vai trò rất quan trọng trong di truyền. Nhiễm sắc thể có bốn hình dạng đặc trưng là hình móc, hình que, hình hạt và chữ V.

    Nhiễm sắc thể đơn: chỉ gồm 1 sợi ADN kép.

    Nhiễm sắc thể kép: gồm 2 cromatit giống nhau và dính nhau ở tâm động, hình thành do nhiễm sắc thể đơn tự nhân đôi.

    Cặp nhiễm sắc thể tương đồng: gồm 2 nhiễm sắc thể giống nhau về hình dạng, cấu trúc và trật tự gen trên nhiễm sắc thể (một có nguồn gốc từ giao tử của bố, một có nguồn gốc từ giao tử của mẹ).

    Bộ nhiễm sắc thể của người bình thường bao gồm 22 cặp nhiễm sắc thể thường và 1 cặp nhiễm sắc thể giới tính, XX ở người nữ và XY ở người nam. Về lý thuyết, 23 nhiễm sắc thể từ người bố và 23 nhiễm sắc thể từ người mẹ kết hợp với nhau tạo ra đứa trẻ với 46 nhiễm sắc thể trong mỗi tế bào, mỗi tế bào chứa hai loại. Mỗi một nhiễm sắc thể có một “vị trí” đặc biệt trong tế bào và mang ý nghĩa di truyền. Trisomy (Một nhóm nhiễm sắc thể thể ba) có thể xảy ra khi đứa trẻ có ba nhiễm sắc thể tại một vị trí thay vì hai như thông thường.

    Công thức nhiễm sắc thể hay còn gọi là Nhiễm sắc thể đồ (Karyotype) được viết dưới dạng : 46,XX hoặc 46,XY. Bất kỳ một thay đổi nào về số lượng hoặc cấu trúc nhiễm sắc thể của một người so với công thức nhiễm sắc thể chuẩn, đều có thể dẫn đến các bất thường trong quá trình phát triển của người đó.

II. Những bất thường NST được thể hiện dưới các dạng sau

1. Sẩy thai ngẫu nhiên:

    Khoảng 50% trường hợp sẩy thai ngẫu nhiên có nguyên nhân bất thường NST. Các trường hợp NST 16 không bao giờ gặp ở các trẻ sinh sống và trường hợp tam bội rất hiếm gặp ở các trẻ sinh sống và trường hợp này thường chết ngay sau khi sinh. Các trường hợp NST 13, 18, 21 được gặp trong khoảng 9% sẩy thai ngẫu nhiên.

2. Các dị tật bẩm sinh:

    Dị tật bẩm sinh là một hậu quả lâm sàng khác do các bất thường của NST gây ra. Mặc dầu các loại bất thường NST rất đa dạng nhưng tất cả chúng đều có những biểu hiện chung như sau:

    - Tình trạng chậm phát triển ở trẻ và chậm trí.

    - Có những thay đổi đặc thù của khuôn mặt.

    - Lùn có thể kèm theo nhẹ cân .

    - Có sự gia tăng tần số của các dị tật bẩm sinh, đặc biệt là các dị tật bẩm sinh của tim.

3. Ung thư:

    Các bất thường của NST xảy ra ở các tế bào sinh dưỡng là nguyên nhân của một số loại ung thư ở người. Đến nay đã có hơn 100 trường hợp tái sắp xếp NST được thấy trên 40 loại bệnh ung thư khác nhau.

III. Các hội chứng thường gặp liên quan đến bất thường NST

1.Hội chứng Down (47,XY, +21)(47,XX,+21): Nghĩa là khi đứa trẻ có 3 nhiễm sắc thể 21

1.1. Nguyên nhân và tần số:

    Đây là trường hợp bất thường NST được gặp phổ biến nhất.

    - Khoảng 95% trường hợp xảy ra do thừa một NST 21. Khoảng 90 - 95% trường hợp có NST 21 thừa được nhận từ mẹ và có sự liên quan chặt chẻ giữa sự gia tăng tuổi mẹ với nguy cơ sinh con. Ở những bà mẹ dưới 30 tuổi nguy cơ sinh con bị thể tam nhiễm 21 là 1/1000, ở các bà mẹ trong độ tuổi 35 nguy cơ này là 1/400, ở các bà mẹ 40 tuổi là 1/100 và ở các bà mẹ 45 tuổi là 1/50.

    - 4% do chuyển đoạn không cân bằng liên quan đến nhánh dài của NST 13, 14, 15 (đa số trường hợp là NST 14) và nhánh dài của NST 21 hoặc giữa NST 21 và 22.

    - Khoảng từ 1 đến 3% trường hợp Down với sự có mặt của 2 dòng tế bào, một dòng bình thường và một dòng thừa 1 NST 21.

1.2. Biểu hiện:

    Trẻ mắc hội chứng Down có khuôn mặt khá điển hình với mũi tẹt, mắt xếch, có nếp quạt ở góc trong của mắt, gáy phẳng, tai nhỏ, lưỡi dày v.v.... 50% trẻ này có rãnh khỉ trong lòng bàn tay, giảm trương lực cơ. Chậm phát triển tinh thần - vận động.

    Trẻ mang gen dị hợp tử có biểu hiện nhẹ nhàng hơn.

    40% trẻ Down bị tật tim bẩm sinh, khoảng 3% số trẻ bị dị tật của ống tiêu hóa. Trẻ có nguy cơ bị bệnh bạch cầu cao gấp 15 đến 20 lần hơn trẻ bình thường, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn hô hấp.

1.3. Nguy cơ tái phát:

    Nguy cơ sinh thêm con bị trisomy 21 ở cặp bố mẹ đã có con bị trisomy 21 khoảng 1%, nguyên nhân của sự gia tăng này không được rõ. Đối với những người mang chuyển đoạn cân bằng, nếu mẹ là người mang nguy cơ sinh con mắc hội chứng Down vào khoảng 10 - 15% và khoảng 1 - 2% nếu bố là người mang.

2. Hội chứng Edward (thể tam nhiễm18) (47,XY, +18)(47,XX,+18): Nghĩa là khi đứa trẻ có 3 nhiễm sắc thể 18

2.1. Nguyên nhân và tần số:

    Thể tam nhiễm 18 là loại thể tam nhiễm được gặp phổ biến vào hàng thứ hai trong số các trường hợp thể tam nhiễm của NST thường.

    Hơn 95% trường hợp hội chứng Edwards là do thể tam nhiễm 18, dạng dị hợp tử gen chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Sự xuất hiện thể tam nhiễm 18 liên quan tới sự gia tăng tuổi mẹ và 90% trường hợp NST 18 thừa được nhận từ mẹ. Trên 95% trường hợp thai mang thể tam nhiễm 18 bị sẩy ngẫu nhiên trong thai kỳ.

    Trisomy 18 thường là hiểm nghèo, hầu hết trẻ sinh ra đều chết trước khi được sinh ra và những đứa trẻ được sinh ra thì thường chỉ sống được vài ngày. Tuy nhiên, một số ít các bé (<10%) sống được ít nhất là một năm.

2.2. Biểu hiện:

    Trẻ có trọng lượng sơ sinh thấp. Khuôn mặt điển hình với tai nhỏ, vành tai vễnh ra ngoài, miệng nhỏ, há ra khó khăn. Xương ức ngắn. Bàn tay điển hình với ngón trỏ đè lên trên ngón giữa. Hầu hết các trẻ này đều mắc các dị tật bẩm sinh quan trọng như tật tim bẩm sinh (thông liên thất, hẹp động mạch vành), dị tật về thận, thoát vị rốn, thoát vị hoành...

    Khoảng 50% trẻ mắc hội chứng này chết trong tháng đầu tiên, chỉ có khoảng 10% sống đến 12 tháng tuổi. Các trường hợp thể tam nhiễm 18 sống tới tuổi thiếu nhi có hiện tượng chậm phát triển nặng nề, hầu hết trẻ không thể đi được.

3. Hội chứng Patau (thể tam nhiễm 13) (47,XY, +13)(47,XX,+13): Nghĩa là khi đứa trẻ có 3 nhiễm sắc thể 13

3.1. Nguyên nhân và tần số:

    Khoảng 80% trường hợp do thừa một NST 13, số còn lại do thể ba nhiễm cục bộ của NST 13 gây ra do đột biến chuyển đoạn. Giống như trường hợp thể ba nhiễm 21 và 18, sự xuất hiện thể ba nhiễm 13 cũng có sự liên quan chặt chẻ với sự gia tăng tuổi mẹ. Trên 95% trường hợp thai mang thể ba nhiễm 13 bị sẩy ngẫu nhiên trong thai kỳ.

3.2. Biểu hiện:

    Trẻ có khuôn mặt điển hình với tật khe hở môi hàm, mắt nhỏ, thừa ngón út. Dị tật của hệ thần kinh trung ương được gặp phổ biến, đôi khi có thể gặp tình trạng bất sản da đầu vùng chẩm sau. 90% trẻ này chết trong năm đầu sau sinh. Trẻ bị tật này nếu sống tới tuổi thiếu nhi thường bị chậm phát triển nặng.

4. Hội chứng Turner (45,X) (mất nhiễm sắc thể, mất đoạn nhiễm sắc thể)

4.1. Nguyên nhân và tần số:

    Tần số xuất hiện hội chứng này là 1/5000 trong số trẻ gái sinh sống nhưng tần số thể đơn nhiễm X trong thai kỳ chiếm tới 4% nghĩa là có trên 99% thai mang thể đơn nhiễm X đã bị sẩy thai ngẫu nhiên.

    Bất thường NST ở những người mắc hội chứng Turner khá đa dạng.

    Khoảng 50% bệnh nhân có karyotype 45,X khi đánh giá trên tế bào lympho ở máu ngoại vi. Khoảng từ 30% đến 40% ở dưới dạng dị hợp tử, phổ biến là 46,XX/45,X, dạng 46,XY/45,X ít gặp hơn (khoảng 5%). Khoảng 10% đến 20% bệnh nhân có bất thường NST X như mất đoạn một phần hoặc toàn bộ nhánh ngắn của NST X. Sự đa dạng này giải thích sự khác biệt rất lớn trong biểu hiện kiểu hình của những người mắc hội chứng này.

4.2. Biểu hiện:

    Người mắc hội chứng này chỉ có 1 NST giới X trong karyotype, kiểu hình là nữ với các biểu hiện đặc trưng sau:

    - Lùn cân đối.

    - Nhi hóa về giới tính và loạn sản buồng trứng

    - Mang một số các dị tật lớn hoặc nhỏ:

         + Bệnh nhân có khuôn mặt hình tam giác, lỗ tai ngoài quay về phía sau, cổ rộng và có “màng”, ngực rộng và có hình khiên.

         + Có thể quan sát thấy tình trạng phù bạch mạch ở bàn tay và bàn chân.

         + Nhiều bệnh nhân bị bệnh tim bẩm sinh.

         + Người mắc hội chứng này không bị chậm phát triển trí tuệ và hầu hết đều vô sinh.

5. Hội chứng Klinefelter (thừa nhiễm sắc thể từ mẹ): Còn gọi là Hội chứng 3X, Bệnh siêu nữ

5.1. Nguyên nhân và tỷ lệ:

    Hội chứng được gặp với tần số 1/1000 trẻ sơ sinh nam, 50% trường hợp Klinefelter có NST X thừa xuất phát từ mẹ và có sự gia tăng tỉ lệ theo tuổi mẹ.

    Dạng dị hợp từ thấy trong khoảng 15% trường hợp. Mặc dù biểu hiện kiểu hình tương đối nhẹ nhưng người ta ước tính có tối thiểu 50% số thai mang karyotype 47, XXY bị sẩy ngẫu nhiên.

5.2. Biểu hiện lâm sàng:

    Người nam mắc hội chứng này có xu hướng cao trên trung bình, tay và chân dài không cân đối với cơ thể.

    Bệnh nhân sau tuổi dậy thì thấy tinh hoàn nhỏ và hầu hết đều bị vô sinh do teo các ống sinh tinh. Vú lớn thấy trên khoảng một phần ba bệnh nhân.

    Thường không bị chậm phát triển trí tuệ nhưng cũng có biểu hiện khó khăn về học và có trí thông minh dưới mức trung bình.

    Do biểu hiện của hội chứng không rõ ràng nên phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán muộn, thường là sau tuổi dậy thì và đôi khi bệnh nhân đến khám với lý do vô sinh.

6. Thể tam nhiễm X (trisomy X)

6.1. Nguyên nhân và tỷ lệ:

    Karyotype 47,XXX được gặp với tỷ lệ 1/1000 người nữ Đa số trường hợp thể tam nhiễm X xảy ra do sự không phân ly NST của mẹ và cũng có sự gia tăng tỉ lệ của hội chứng này với sự gia tăng tuổi mẹ.

6.2. Biểu hiện:

    Người nữ mang 3 NST X có biểu hiện khá nhẹ nhàng, rất hiếm khi gặp các bất thường của cơ thể. Những người này thường bị vô sinh, kinh nguyệt không đều hoặc chậm phát triển trí tuệ nhẹ nên rất khó phát hiện sớm và bệnh nhân thường đến khám vì lí do vô sinh.

7. Hội chứng 47, XYY

7.1. Nguyên nhân và tỷ lệ:

    Tỉ lệ người mắc hội chứng này trong quần thể bình thường là 1/1000 trong khi đó ở đối tượng là tù nhân nam trong một số nghiên cứu tỷ lệ này lên tới 1/30.

7.2. Biểu hiện:

    Người nam với karyotype 47,XXY có xu hướng cao trên trung bình, giảm chỉ số trí tuệ, có xu hướng hung bạo, đặc điểm này giải thích tại sao hội chứng này có tỷ lệ cao trong số tù nhân nam.

8. Hội chứng NST X dễ gãy và trường hợp chậm trí liên kết với NST giới tính X

8.1. Nguyên nhân và tần số:

    Bằng kỹ thuật nuôi cấy tế bào máu ngoại vi trong điều kiện thiếu folat hoặc làm rối loạn quá trình chuyển hóa thymidine sẽ làm xuất hiện các chỗ gãy trên nhánh dài của NST X  ở những người nam bị chậm trí liên kết với NST giới tính X do đó được gọi là hội chứng NST X dễ gãy.

    Hội chứng này được thấy với tỉ lệ khoảng 1/1250 ở người nam và 1/2000 ở người nữ, tỉ lệ này không có sự khác biệt theo chủng tộc. Với tỉ lệ này hội chứng NST X dễ gãy là dạng chậm trí di truyền được gặp phổ biến nhất ở người.

8.2. Biểu hiện:

    Người mắc hội chứng này có biểu hiện khuôn mặt bất thường với khuôn mặt hẹp và dài, trán vồ, hàm nhô, tai to và vễnh. Tinh hoàn lớn thấy trong khoảng 90% trường hợp sau tuổi dậy thì, tình trạng chậm trí thay đổi từ mức độ nhẹ đến trung bình. Người nữ mắc hội chứng này có biểu hiện chậm trí nhẹ.

9. Bệnh Wilson

9.1. Khái niệm:

    Bệnh Wilson còn gọi là bệnh thoái hóa gan nhân đậu, là bệnh di truyền lặn nhiễm sắc thể, rối loạn đột biến của gen, nên chất đồng vào cơ thể ứ đọng lại, tích tụ dần gây nhiễm độc một số vùng của não, mắt, khớp, gan (gây xơ gan).

9.2. Nguyên nhân:

    Là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường đặc trưng bởi sự tích lũy đồng trong cơ thể và các bất thường liên qua đến gan và thần kinh.

    Đây là một bệnh di truyền hiếm gặp với tỷ lệ mắc là 1/30.000 người. Tuy nhiên, tỷ lệ người mang gen bệnh là 1/100 người.

    Bệnh Wilson phổ biến hơn ở nữ hơn so với nam, với tỷ lệ nữ/nam là 4/1.

    Cơ chế di truyền:

    - Bệnh Wilson là di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Khi hai người cùng mang một gen bất thường, các trường hợp mà con họ sinh ra có thể gặp là:

         + 25% đứa trẻ bị bệnh Wilson vì nhận cả hai gen bất thường từ bố và mẹ.

         + 50% đứa trẻ không bị bệnh Wilson nhưng sẽ là người mang gen bệnh vì nhận một gen bất thường từ bố hoặc mẹ và một gen bình thường từ người còn lại.

         + 25% đứa trẻ không bị bệnh Wilson và sẽ không phải là người mang gen bệnh vì nhận cả hai gen bình thường từ bố và mẹ.

9.3. Triệu chứng:

    Bệnh Wilson khởi phát một cách nhanh chóng sẽ dẫn đến các tổn thương nghiêm trọng đến chức năng của gan, encephalopathy, coagulopathy, và thậm chí có thể tử vong nếu không được ghép gan kịp thời.

    Bệnh khởi phát ở nhiều độ tuổi khác nhau. Với những trẻ bị có các triệu chứng liên quan đến gan thường khởi phát ở độ tuổi từ 10 – 13 và với người trưởng thành có các triệu chứng liên đến thần kinh thường khởi phát ở độ tuổi từ 19 – 20.

    Tại gan:

    - 40 – 50% trường hợp mắc bệnh Wilson bị rối loạn chức năng gan. Các triệu chứng liên quan đến gan thường xuất hiện đầu tiên. Sự tích lũy đồng gây độc cho gan và do đó thường gây viêm gan, dẫn đến vàng da, đau bụng và buồn nôn. Nếu không được điều trị, sự tổn thương tế bào gan sẽ gây ra xơ gan. Thậm chí, trong trường hợp xơ gan nặng.

    - Độ tuổi trung bình khởi phát bệnh là 11 tuổi. Hiếm khi các triệu chứng xuất hiện trước 5 tuổi, tuy nhiên cũng có thể chẩn đoán bệnh nhân mắc bệnh Wilson sớm, khoảng 2 tuổi nếu thấy xuất hiện sự tăng hàm lượng các enzyme ở gan.

    Tại não:

    - 40 – 60% trường hợp mắc bệnh Wilson có các dấu hiệu lâm sàng do rối loạn chức năng thần kinh. Đồng tích tụ ở não sẽ gây ra nhiều triệu chứng khác nhau.

    - Các triệu chứng liên quan đến vận động: Run tay, di chuyển chậm, không đứng được, khó phát âm, khó nuốt, đau đầu, lên cơn (tái phát-seizure), giãn tĩnh mạch, ban đỏ trong lòng bàn tay, u mạch, một số vấn đề liên quan đến viết.

    - Các triệu chứng thần kinh: Suy nhược, không có khả năng tập trung. Người bị bệnh thường hay gây gổ và nhạy cảm và có thể có thay đổi bản tính. Ở typ bệnh này, bệnh phởi phát muộn với độ tuổi trung bình là 18, tuy nhiên cũng có thể các triệu chứng thần kinh xuất hiện trước 6 tuổi. Nếu không được điều trị, sự tích lũy đồng ở não có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng chẳng hạn như yếu cơ nặng, mất trí.

    - Mắt: Đồng có thể tích tụ ở mắt với đặc điểm đặc trưng là giác mạc có đặc điểm được gọi là Kayser – Fleischer ring – một màng màu nâu ở giác mạc mắt.

    - Một số dấu hiệu khác có thể xuất hiện bao gồm: Thiếu máu, tổn thương thận, vấn đề tim mạch, viêm tụy, các vấn đề bất thường về kinh nguyệt và liên tục xảy thai ở phụ nữ.

9.4. Các xét nghiệm:

    Xét nghiệm máu để đo hàm lượng ceruloplasmin: đây là một trong những xét nghiệm sàng lọc bởi nó không đặc hiệu cho bệnh Wilson. 5-10% trường hợp mắc bệnh Wilson có lượng ceruloplasmin giảm nhẹ, 10-20% trường dị hợp cũng có lượng ceruloplasmin giảm sút. Sự bất thường về hàm lượng  ceruloplasmin có thể do các nguyên nhân khác như viêm gan mãn tính, viêm ruột loét miệng.

    Xét nghiệm nước tiểu để đo hàm lượng đồng: lượng đồng trong nước tiểu của trường hợp mắc bênh Wilson vượt quá 100 µg/d. Tuy nhiên, sự bất thường này cũng có thể do các nguyên nhân khác ví dụ như bệnh gan obstructive. Ở người mang gen bệnh, hàm lượng đồng tăng cao, nhưng không vượt quá ngưỡng 100 µg/d.

    Kiểm tra mắt: Trường hợp có các dấu hiệu liên quan đến rối loạn thần kinh và tâm thần thường xuất hiện Kayser -Fleischer ring, nhưng lại không có ở trường hợp rối loạn chức năng gan

    Sinh thiết gan: Sinh thiết gan để xác định hàm lượng đồng là một trong những xét nghiệm nhạy và chính xác để chẩn đoán xác định người mắc bệnh Wilson. Ở người bình thường, lượng đồng từ 15 – 55 µg/g. 83,3% bệnh nhân mắc bệnh Wilson có lượng đồng trong cơ thể cao hơn 250 µg/g, 3,5% còn lại thấp hơn 50 µg/g. Tuy nhiên, tăng lượng đồng trong gan có thể do các bệnh về gan chẳng hạn như viêm gan mãn tính, cirrhosis… Tuy nhiên, sinh thiết gan chỉ được sử dụng trước hết cho bệnh nhân rối loạn chức năng gan mà không cần thiết đối với những trường hợp có các dấu hiệu rối loạn thần kinh.

    Chẩn đoán hình ảnh: 100% bệnh nhân mắc bệnh Wilson mà có các biểu rối loạn thần kinh hầu như đều có bất thường khi tiến hành MRI với các đặc điểm là giãn não thất, teo vỏ não và một số bất thường khác.

    Phương pháp xét nghiệm: Phân tích tìm đột biến trên gen ATP7B

    - Tách chiết DNA.

    - PCR tìm đột biến trên từng exon.

    - SSCP (Single strange conformational polymorphism) tìm đột biến trên vùng không phiên mã 5’-UTR.

    - Giải trình tự toàn bộ gen ATP7B.

9.5. Xử trí:

    Bệnh có tiên lượng nặng, cần phát hiện sớm để điều trị kịp thời. Trong gia đình có người bi bệnh cần đưa những người thân trong gia đình đi khám để xem có mắc bệnh không.

    Nếu phát hiện sớm thì nguyên tắc điều trị là không ăn thức ăn chứa nhiều chất đồng (gan, sò, ốc...), và dùng thuốc để thải chất đồng ra khỏi cơ thể.

10. Hội chứng mất đoạn NST 22q11.2 (hay còn gọi là hội chứng DiGeorge hoặc hội chứng Shprintzen)

10.1. Khái niệm

    Hội chứng DiGeorge là hội chứng do vi mất đoạn trên NST thường gặp nhất với tỉ lệ ước tính là 1/4000 -1/6000 trẻ sinh sống. Hội chứng này được tìm thấy với tỉ lệ 1/68 ở những trẻ dị tật bẩm sinh và khoảng 2,4 % những trường hợp chậm phát triển tâm thần trí tuệ.

    Bệnh thường liên quan đến  suy giảm miễn dịch tiên phát, trong phần lớn các trường hợp là do sự thiếu hụt hoặc hoạt động một cách khiếm khuyết của tế bào T. Ngoài các vấn đề về miễn dịch, hội chứng này có thể bao gồm cả thiểu sản tuyến cận giáp, tật tim bẩm sinh, khuyết tật mặt, thính giác và trí tuệ.

10.2. Đặc điểm lâm sàng

    Hội chứng Digeorge có thể gây ra nhiều vấn đề khác nhau ảnh hưởng đến nhiều phần và bộ phận khác nhau của cơ thể, các nghiên cứu đã liệt kê được hơn 180 triệu chứng. Một bệnh nhân mang hội chứng Digeorge có thể biểu hiện những đặc điểm lâm sàng này mà không biểu hiện đặc điểm khác.

    Các nghiên cứu đã thống kê được 5 dấu hiệu thường gặp của hội chứng DiGeorge:

    - Dị tật tim bẩm sinh.

    - Đặc điểm khuôn mặt đặc trưng (tai thấp, mắt rộng, hàm nhỏ, có rãnh hẹp ở môi trên) .

    - Tật hở vòm miệng/họng (hở hàm ếch)

    - Nồng độ canxi huyết thấp (gây động kinh) do thiểu sản tuyến cận giáp

    - Thường nhiễm trùng do suy giảm miễn dịch, hoặc mắc bệnh tự miễn (bệnh Basedow, viêm khớp mãn tính…)

    Bệnh nhân cũng có thể có gặp các vấn đề về hô hấp, bất thường về thận, giảm tiểu cầu, vấn đề về dạ dày – ruột, mất thính lực. Ngoài ra, người bệnh có thể bị thấp lùn và hiếm gặp hơn là dị tật xương sống. Nhiều trẻ mắc hội chứng này bị chậm phát triển, đặc biệt là chậm sinh trưởng, chậm nói, khuyết tật học tập. Những người này cũng bị nguy cơ cao mắc các bệnh tâm thần về sau này như tâm thần phân liệt, trầm cảm, lo lắng và rối loạn lưỡng cực, hoặc mắc hội chứng tăng động – giảm chú ý (ADHD) và các vấn đề về rối loạn phát triển như rối loạn phổ tự kỷ có thể ảnh hưởng đến giao tiếp và tương tác xã hội.

10.3. Nguyên nhân

    Khoảng 90% bệnh nhân mắc hội chứng DiGeorge mang đột biến mất đoạn nhỏ ở cánh dài của nhiễm sắc thể 22 (22q11.2). Sự mất đi khoảng 30 gen tại vùng này được cho là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và phát triển bất thường của một số mô trong quá trình phát triển phôi, từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 10 trong thai kỳ, khi mà tuyến cận giáp, tuyến ức, môi, tai và cung động mạch chủ đang được hình thành.

10.4. Hội chứng DiGeorge có di truyền không?

    Hội chứng này di truyền theo cơ chế di truyền trội trên nhiễm sắc thẻ thường, vì chỉ cần mất đoạn xảy ra ở một trong hai chiếc NST của cặp NST 22 ở mỗi tế bào là đủ để gây ra hội chứng này. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp mắc hội chứng này là do phát sinh ngẫu nhiên trong quá trình hình thành tế bào sinh sản (trứng hoặc tinh trùng), hoặc trong quá trình phát sinh phôi sớm. Người mắc hội chứng này thường có gia đình bình thường, không có ai mắc bệnh nhưng chính họ lại có thể di truyền hội chứng này cho con cái. Trong 10% số trường hợp mắc hội chứng là do thừa hưởng một NST số 22 bị mất đoạn từ bố hoặc mẹ.

10.5. Chẩn đoán

    Việc chẩn đoán hội chứng DiGeorge được dựa trên các vấn đề về sức khỏe, biểu hiện lâm sàng, hình ảnh siêu âm đối với trường hợp trước sinh; cùng với đó là xét nghiệm di truyền để phát hiện mất đoạn trên NST 22 (MLPA, FISH, microarray hoặc giải trình tự thế hệ mới). Bác sĩ thường chỉ định xét nghiệm trong trường hợp bệnh nhân gặp các vấn đề sức khỏe hoặc bệnh tương tự như trong hội chứng DiGeorge, đặc biệt là dị tật tim.

    Đối với phụ nữ mang thai, đặc biệt là những người thuộc nhóm có nguy cơ cao, việc xét nghiệm, chẩn đoán sớm trẻ mang đột biến là yếu tố cực kì quan trọng; giúp cha mẹ chuẩn bị kiến thức, tâm lý; khắc phục kịp thời các khuyết tật, giảm thiểu nguy hiểm và tăng cường chất lượng sống sau này của trẻ:

    - Chẩn đoán xâm lấn: Sinh thiết gai nhau (tuần 10-12), chọc dò dịch ối (tuần 15-20) hoặc lấy máu dây rốn thai nhi (sau tuần 20) là các phương pháp thu mẫu để tiến hành các xét nghiệm di truyền trong giai đoạn mang thai.

    - Xét nghiệm trước sinh không xâm lấn (NIPT): một số xét nghiệm trước sinh không xâm lấn có thể giúp phát hiện đột biến mất đoạn 22q11.2 ở DNA thai nhi tự do lưu thông trong máu mẹ với độ chính xác cao dựa trên giải trình tự thế hệ mới và các thuật toán phân tích so sánh. Tuy nhiên, xét nghiệm này chỉ được coi là xét nghiệm sàng lọc.

    Xét nghiệm di truyền hội chứng DiGeorge cũng được sử dụng trong chẩn đoán di truyền trước làm tổ. Đây là kỹ thuật được thực hiện nhằm mục đích tầm soát đột biến của phôi trước khi chuyển vào buồng tử cung của bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm.

10.6. Điều trị

    Mặc dù không thể chữa khỏi được hội chứng DiGeorge, các bác sĩ có thể điều trị các triệu chứng mắc phải:

    - Thiểu sản tuyến cận giáp: có thể được can thiệp bằng cách bổ sung thêm canxi và vitamin D.

    - Trẻ gặp vấn đề về chức năng của tuyến ức thể nhẹ hoặc trung bình có thể sẽ hay bị nhiễm trùng, ví dụ như bị cảm hoặc nhiễm trùng tai. Các trẻ mắc bệnh này được điều trị tương tự như ở các trẻ khác và tiêm chủng theo trình tự thông thường. Chức năng của hệ miễn dịch có thể được cải thiện dần khi trẻ lớn lên.

    - Nếu các sai hỏng ở tuyến ức xảy ra ở mức độ nặng hoặc không có tuyến ức, trẻ mắc bệnh sẽ có nguy cơ gặp phải một số dạng nhiễm trùng nghiêm trọng. Khi đó, cần phải điều trị bằng cách cấy ghép mô tuyến ức, đặc biệt là tế bào tủy xương hoặc các tế bào máu chuyên hóa để chống lại bệnh tật.

    - Chẻ vòm hầu/ họng: Các đặc điểm bất thường này có thể được khắc phục nhờ phẫu thuật.

    - Dị tật tim: Hầu hết các dị tật tim liên quan đến hội chứng DiGeorge đòi hỏi phải được phẫu thuật để chỉnh lại cấu trúc tim và tăng lượng máu giàu oxi cho cơ thể.

    Các vấn đề về phát triển của cơ thể: có thể được can thiệp bằng một số liệu pháp về ngôn ngữ, nghề nghiệp và phát triển. Trong trường hợp mà trẻ được chẩn đoán mắc hội chứng tăng động giảm chú ý (ADHD), trầm cảm, tâm thần phân liệt hoặc các rối loạn về sức khỏe tâm thần và hành vi khác thì có thể phải thực hiện một số liệu pháp điều trị đặc biệt.

IV. Các chỉ định cho việc phân tích NST

1. Việc phân tích NST được chỉ định trong các trường hợp sau:

    Các trường hợp liên quan đến các bất thường NST đã biết hoặc có biểu hiện gợi ý mang bất thường NST.

    Các trường hợp có từ hai dị tật bẩm sinh chính trở lên đặc biệt là khi đi kèm với chậm phát triển tinh thần, vận động.

    Các bất thường liên quan đến biệt hóa giới tính, bất thường của cơ quan sinh dục.

    Các trường hợp chậm trí không rõ nguyên nhân.

    Các bệnh máu ác tính.

    Sẩy thai liên tiếp.

    Bố mẹ và con cái của những người mang bất thường NST dạng chuyển đoạn, mất đoạn, lặp đoạn.

    Các trường hợp thai lưu với thai mang dị dạng hoặc thai chết lưu không rõ nguyên nhân.

    Những người nữ lùn và vô kinh nguyên phát.

    Những người nam có tinh hoàn nhỏ hoặc vú to đáng kể.

    Những người nam nghi ngờ mắc hội chứng NST X dễ gãy.

2. Chẩn đoán trước sinh: Nhiễm sắc thể đồ từ tế bào dịch ối hoặc gai rau

    Mẹ cao tuổi (>35 tuổi).

    Thuộc nhóm nguy cơ cao khi sàng lọc huyết thanh mẹ.

    Siêu âm thai thấy hình ảnh bất thường.

    Bố hoặc mẹ là người mang chuyển đoạn NST cân bằng.

    Sảy thai

    Lưu thai nhiều lần.    

3. Chẩn đoán sau sinh: Nhiễm sắc thể đồ từ máu ngoại vi

    Vô sinh nam và nữ.

    Mơ hồ giới tính.

    Khuyết tật sơ sinh.

    Bộ mặt bất thường.

    Tiền sử gia đình có mang các bất thường nhiễm sắc thể.

    Chậm phát triển tinh thần vận động chưa rõ nguyên nhân.

    Vô kinh tiên phát hoặc thứ phát.

4. Ung thư: Nhiễm sắc thể đồ từ tế bào tủy xương hoặc từ khối u

    Bạch cầu cấp thể tủy hoặc thể lympho: Đánh giá các thay đổi về nhiễm sắc thể, đặc biệt sự có mặt của một số chuyển đọan đặc hiệu như chuyển đoạn nhiễm sắc thể số 9 và 22, số 4 và 11, số 8 và 21... có giá trị phân loại và tiên lượng điều trị.

    U nguyên bào thần kinh: Đánh giá các thay đổi về nhiễm sắc thể, đặc biệt là sự lặp đoạn, mất đoạn nhánh ngắn nhiễm sắc thế số 1, và thêm đoạn nhánh dài nhiễm sắc thể số 7... có giá trị phân loại và tiên lượng điều trị.