1. Khái niệm:

           Sánlá gan là một loài ký sinh trùng sống ký sinh ở các động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu, dê... Có hai loại sán lá gan: sán lá gan lớn và sán lá gan nhỏ.

2. Nguyên nhân gây bệnh:

Sán lá gan gồm 2 loại: sán lá gan nhỏ (do ăn cá sống) và sán lá gan lớn (do ăn rau sống), là bệnh do một loại ký sinh trùng trong các loại cá sống ở nước lợ, hoặc trong các loại rau mọc ở dưới nước gây ra.

Ở nước ta, bệnh sán lá gan hay gặp ở miền Trung do thói quen ăn gỏi cá và rau sống của người dân. Khi ăn các thực phẩm này, loại ký sinh trùng đó sẽ vào dạ dày, xuống ruột, vượt qua thành ruột đi vào trong gan. Tại đây nó sẽ phát triển trong những tế bào gan.

3 Phân loại

           + Sán lá gan nhỏ: có 3 loại Clonorchis sinensis; Opisthorchis viverrini; Opisthorchis felineus

           + Sán lá gan lớn: có 2 loại Fasciola hepatica; Fasciola gigantica

           - Hình thái: Sán lá gan lớn và nhỏ đều có hình lá, thân dẹt và kích thước khác nhau tùy loài; loài sán lá gan lớn kích thước lớn hơn rất nhiều so với sán lá gan nhỏ. Cơ thể sán đều là lưỡng giới, vừa có tinh hoàn và buồng trứng trên một cơ thể sán.

           - Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: Trứng sán lá gan có vỏ mỏng nên tồn tại ở môi trường bên ngoài rất kém, nhiệt độ ánh sáng mặt trời trên 70oC trứng sẽ bị hỏng. Tuy nhiên, trứng sán muốn phát triển thành ấu trùng phải có môi trường nước, nếu trên cạn trứng sẽ bị hỏng và không phát triển được, khả năng tồn tại của sán lá gan trưởng thành ở ngoại cảnh cũng rất kém.

4. Triệu chứng:

           - Bệnh sán lá gan nhỏ: thường có triệu chứng đau tức vùng gan, rối loạn tiêu hóa (kém ăn, bụng ậm ạch khó tiêu); đôi khi có biểu hiện sạm da, vàng da và dấu hiệu gan to hay xơ gan tùy theo mức độ của bệnh.

           - Bệnh sán lá gan lớn: thường có các triệu chứng đau vùng hạ sườn phải lan về phía sau hoặc đau vùng thượng vị và mũi ức; tính chất đau không đặc hiệu, có thể âm ỉ, đôi khi đau dữ dội, cũng có trường hợp không đau bụng. Bệnh nhân mệt mỏi, có cảm giác đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, có thể sốt hoặc đau khớp, đau cơ và mẩn ngứa...

5. Các xét nghiệm cần xác định:

           + Bệnh sán lá gan nhỏ: xét nghiệm tìm thấy trứng sán  trong phân hoặc dịch tá tràng.

           + Bệnh sán lá gan lớn: xét nghiệm tìm thấy trứng sán trong phân hoặc xét nghiệm máu bằng kỹ thuật miễn dịch (ELISA) tìm thấy kháng thể kháng sán lá gan lớn trong huyết thanh bệnh nhân.

           - Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự: Viêm gan siêu vi, áp xe gan do các loại ký sinh trùng khác (amíp, giun đũa, toxocara...) hoặc do vi khuẩn (áp xe đường mật), ung thư gan (u gan), cơn đau dạ dày...

6. Nguồn truyền nhiễm:

- Ổ chứa:

           + Bệnh sán lá gan nhỏ: vật chủ chính là người và một số động vật như chó, mèo, hổ báo, cáo chồn, rái cá, chuột; vật chủ trung gian truyền bệnh là các loài ốc Bythinia, Melania...

           + Bệnh sán lá gan lớn: vật chủ chính là động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu; người chỉ là vật chủ ngẫu nhiên, tình cờ mắc bệnh; vật chủ trung gian truyền bệnh là ốc họ Lymnaea.

- Thời gian ủ bệnh:

           + Thời gian ủ bệnh của sán lá gan nhỏ không rõ ràng và phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, thường nhiễm trên 100 sán triệu chứng mới rõ rệt.

           + Thời gian ủ bệnh của sán lá gan lớn phụ thuộc vào số lượng ấu trùng ăn vào và đáp ứng của vật chủ. Ở người, giai đoạn này không xác định được chính xác có thể là vài ngày, vài tuần hoặc vài ba tháng, thậm chí lâu hơn.

- Thời kỳ lây truyền:

           + Đối với sán lá gan nhỏ, sau khi xâm nhập vào nhu mô gan, sán non sẽ phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng trong các đường dẫn mật, trứng được bài xuất ra ngoài theo phân và xuống nước phát triển theo chu kỳ khép kín rồi lây truyền qua đường ăn cá sống có nang trùng.

           + Đối với sán lá gan lớn, sau giai đoạn xâm nhập vào nhu mô gan từ 2-3 tháng, sán tiếp tục xâm nhập vào đường mật, trưởng thành và đẻ trứng, trứng được bài xuất ra ngoài theo phân và xuống nước nở thành ấu trùng lông rồi qua ốc và phát triển thành ấu trùng đuôi và nang trùng bám vào rau thủy sinh hoặc bơi trong nước, nếu người hoặc động vật ăn cỏ ăn phải nang trùng sẽ vào dạ dày tới ruột rồi lên gan và ký sinh tại gan. Tại gan, sán trưởng thành có thể ký sinh và gây bệnh trong nhiều năm.

- Phương thức lây truyền:

           + Bệnh sán lá gan nhỏ: người hoặc động vật ăn phải ấu trùng nang chưa được nấu chín thì sau khi ăn ấu trùng này vào dạ dày, xuống tá tràng rồi ngược theo đường mật lên gan, phát triển thành sán lá gan trưởng thành ký sinh và gây bệnh ở đường mật.

           + Bệnh sán lá gan lớn: người bị nhiễm bệnh do ăn sống các loại rau mọc dưới nước (rau ngổ, rau rút, rau cần, cải xoong...) hoặc uống nước lã có nhiễm ấu trùng sán.

7. Điều trị:

           - Điều trị sớm, đủ liều và dùng thuốc đặc hiệu.

           - Điều trị hỗ trợ khi cần thiết để nâng cao thể trạng cho bệnh nhân.

           Lưu ý những trường hợp chống chỉ định điều trị cho phụ nữ có thai, những người đang bị bệnh cấp tính hoặc suy tim, suy gan, suy thận, bệnh tâm thần..., cơ địa dị ứng với thuốc cần dùng.           

8. Phòng bệnh:

Biện pháp dự phòng:

           - Tuyên truyền giáo dục sức khỏe: về tác hại và đường lây truyền của bệnh sán lá gan lớn và sán lá gan nhỏ; không ăn cá chưa nấu chín như gỏi cá, cá rán hoặc nấu chưa chín dưới mọi hình thức nào; không ăn rau sống mọc dưới nước, không uống nước lã, không ăn gan sống.

           - Vệ sinh phòng bệnh: ăn chín, uống chín, không dùng phân người nuôi cá, không phóng uế bừa bãi xuống các nguồn nước.

Biện pháp phòng chống dịch:

           - Tổ chức: nếu có dịch xảy ra phải thành lập ngay Ban chỉ đạo các cấp khoanh vùng dập dịch.

           - Chuyên môn: chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế để điều trị diệt mầm bệnh; kiểm soát trâu, bò vùng có dịch, kiểm tra nguồn bò lai nhập khẩu vào trong nước; tuyên truyền người dân không ăn gỏi cá, không ăn rau sống mọc dưới nước. Người nghi ngờ nhiễm bệnh phải đến cơ sở khám chữa bệnh để được chẩn đoán và điều trị kịp thời, chủ động phát hiện và điều trị sớm bệnh sán lá gan tại vùng có dịch.

9. Câu hỏi liên quan

Hỏi :

Tôi nghe nói sán lá gan có trong cá. Vậy bộ phận nào của cá có nhiều sán này nhất?

Đáp :

           PGS.TS Lê Thanh Hòa, Trưởng phòng Miễn dịch học, Viện Công nghệ Sinh học cho biết: Các nghiên cứu cho thấy, các loài cá mình dẹt như cá mè, cá diếc... nuôi ở ao hồ hay tự nhiên đều chứa rất nhiều ấu trùng sán lá gan nhỏ.

           Đặc biệt, có thể do ái lực của cơ thịt cá nên phần đuôi cá có các ấu trùng sinh sống rất nhiều. Trong khi sống ở thịt cá, ấu trùng sẽ phát triển thành nang kén.

           Nếu người ăn cá nhưng nấu không chín dễ dàng nhiễm sán. Vì thế, cần nấu cá sôi ít nhất 30 phút để tiêu diệt ký sinh trùng. Tránh ăn gỏi cá, cá tái hay cá hấp chưa chín kỹ.