1. Khái niệm:
           Sốt rét là một bệnh nhiễm ký sinh trùng lây truyền từ người này sang người khác do muỗi đốt. Bệnh gây ra những cơn sốt kèm theo rét run tái diễn và có thể gây tử vong.
2. Dấu hiệu và triệu chứng:
Bệnh đặc trưng bởi những cơn tái diễn với các dấu hiệu và triệu chứng sau:
           - Rét run từ vừa đến nặng
           - Sốt cao
           - Toát mồ hôi đầm đìa khi hết sốt
           - Cảm giác khó ở
           Các triệu chứng khác gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
3. Nguyên nhân:
           Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là ký sinh trùng đơn bào plasmodium. Có khoảng 170 loài plasmodium, nhưng chỉ có 4 loài gây sốt rét ở người là:
           - P. falciparum. Chủ yếu gặp ở châu Phi, gây triệu chứng nặng nhất và chiếm phần lớn các trường hợp tử vong do sốt rét.
           - P. vivax. Chủ yếu gặp ở vùng nhiệt đới của châu Á, gây triệu chứng nhẹ hơn những có thể tồn tại trong gan và gây tái phát bệnh trong nhiều năm.
           - P. malariae. Được phát hiện thấy ở châu Phi, có thể gây triệu chứng sốt rét điển hình nhưng trong một số ít trường hợp có thể nằm yên trong máu mà không gây triệu chứng. Bệnh nhân có thể làm lây ký sinh trùng sang người khác qua vết đốt của muỗi hoặc qua truyền máu.
           - P. ovale. Chủ yếu gặp ở vùng Tây Phi. Tuy hiếm gặp nhưng cũng có thể gây bệnh tái phát.

4. Quy trình vi trùng sốt rét phát triển
Cả bốn loại ký sinh trùng sốt rét trên tuy có khác nhau về hình thái học nhưng diễn biến chu kỳ ở người và muỗi truyền bệnh tương tự nhau, gồm 2 giai đoạn
-        Giai đoạn sinh sản và phát triển vô tính trong cơ thể người.
-        Giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Anopheles truyền bệnh.
Trong đó người là vật chủ phụ, muỗi là vật chủ chính, thiếu một trong 2 vật chủ này thì Plasmodium không thể sinh sản và bảo tồn nòi giống được.
Giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người
Giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người chia làm hai thời kỳ, thời kỳ phát triển trong gan và thời kỳ sinh sản vô tính trong hồng cầu. Quá trình cụ thể như sau: muỗi Anopheles mang mầm bệnh (thoa trùng) đốt người, thoa trùng từ muỗi truyền vào máu ngoại biên của người. Thoa trùng chủ động tìm đường xâm nhập vào gan, vì tại giai đoạn đó máu không phải là môi trường thích hợp cho thoa trùng tồn tại và phát triển, thời gian chúng ở trong máu chỉ dưới 1 giờ đồng hồ.
Thoa trùng xâm nhập tế bào gan và bắt đầu phân chia, đến một lượng nhất định làm tế bào gan bị vỡ ra giải phóng những ký sinh trùng mới, đây là giai đoạn phát triển của nhiều thoa trùng. Từ gan vào máu, ký sinh trùng xâm nhập hồng cầu, chúng sinh sản vô tính tại đây đến mức độ đầy đủ làm vỡ hồng cầu giải phóng ký sinh trùng, đại bộ phận những ký sinh trùng này sẽ lại thâm nhập vào hồng cầu khác để tiếp tục sinh sản vô tính. Nhưng một số mảnh ký sinh trùng khác trở thành những thể giao bào đực cái, nếu muỗi hút những giao bào này, chúng sẽ phát triển chu kỳ hữu tính ở muỗi, nếu không được muỗi hút thì sau một thời gian sẽ bị tiêu hủy.
Khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành chu kỳ vô tính trong hồng cầu tùy từng chủng loại Plasmodium, có thể từ 40 đến 72 giờ
5. Xét nghiệm và chẩn đoán:
           Xét nghiệm kính phết: Lấy máu làm tiêu bản nhuộm và soi dưới kính hiển vi để tìm ký sinh trùng. 2 mẫu máu lấy cách nhau 6 giờ có thể xác nhận sự có mặt của ký sinh trùng sốt rét là loại ký sinh trùng. Cùng một lúc người bệnh có thể bị nhiễm nhiều loại plasmodium khác nhau.
6. Điều trị:
           Bệnh sốt rét, nhất là sốt rét do nhiễm P. falciparum, cần được khám và điều trị kịp thời.
7. Chế độ dinh dưỡng-chăm sóc:
           - Bệnh nhân cần được cho ăn đảm bảo đủ calo ngay từ ngày đầu, tốt nhất là ăn lỏng (cháo, sữa...) khi sốt cao và ăn đặc (cơm) khi đã hạ sốt. Cho uống nhiều nước (nước sôi để nguội, nước hoa quả, nước cháo...).
           - Đối với trẻ em đang bú, phải tiếp tục cho bú...
           - Khi bệnh nhân ăn uống kém, cần bổ sung năng lượng và dịch thể bằng đường truyền tĩnh mạch.
           Lưu ý: Tình trạng sốt cao (trên 39 độ C) dễ gây kích thích, vật vã, mê sảng, nôn, trẻ dễ bị co giật. Cần hạ sốt bằng các biện pháp như cởi nới bớt quần áo, để bệnh nhân nằm nơi thoáng mát, lau người bằng khăn ấm... Khi sốt quá cao (trên 40 độ C), có thể dùng paracetamol (uống hoặc viên đạn đặt hậu môn). Không nên dùng các thuốc hạ sốt có aspirin.
           - Bệnh nhân rất dễ bị thiếu máu, nhất là những người sốt dai dẳng, phụ nữ có thai và trẻ em. Thiếu máu ở bệnh nhân sốt rét thường là thiếu máu nhược sắc (giảm hồng cầu và huyết cầu tố) do vỡ hồng cầu, rối loạn chuyển hóa sắt và thiểu dưỡng. Do vậy, ngoài vấn đề nuôi dưỡng tốt, bệnh nhân sốt rét cần được bổ sung sắt và các nguyên tố vi lượng (bằng ăn uống hoặc thuốc), tăng cường các vitamin, nhất là vitamin A, kẽm (giúp chuyển hóa sắt) và axit folic. Khi thiếu máu nặng, cần được truyền máu cùng nhóm.
8. Phòng bệnh:
           - Hiện chưa có vaccin phòng sốt rét. Cách phòng bệnh chủ yếu là ngăn không cho muỗi đốt, bao gồm nằm màn tẩm thuốc diệt muỗi và phun thuốc diệt muỗi trong nhà.
           - Điều trị dự phòng bằng các thuốc chống sốt rét .
           - Bôi thuốc xua côn trùng như DEET lên vùng da hở và phun thuốc diệt muỗi tại nơi ở.
           - Mặc quần áo bảo hộ.
           - Nằm màn khi ngủ.