1. Khái niệm
           Bệnh thủy đậu (Chicken-pox) còn gọi trái rạ, phỏng rạ hay thủy hoa, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do virus Varicella zoster gây ra.
           Đây là loại bệnh truyền nhiễm thông thường, trẻ em hay mắc phải, thỉnh thoảng cũng gặp ở người lớn nếu trước đây chưa mắc bệnh này và thường bị nặng hơn so với trẻ em. Tỷ lệ mắc bệnh thường cao ở các đô thị, nơi đông dân và trong những tháng lạnh. Tuổi mắc nhiều nhất là 2-7 tuổi, ít khi gặp ở trẻ dưới 6 tháng.
           Bệnh thường nhẹ nhưng rất dễ lây, 90% những người nhạy cảm sau khi tiếp xúc với người nhiễm virus thủy đậu sẽ bị mắc bệnh. Bệnh thường lành tính và phát triển có giới hạn ở những người khỏe mạnh, tuy nhiên lại nặng hơn nhiều ở những người suy giảm miễn dịch, trẻ sơ sinh và người lớn.


2. Dịch tễ


           Người bệnh là nguồn lây duy nhất. Người ốm làm lây bệnh ngay từ khi có triệu chứng đầu tiên cho đến khi nốt đậu đóng vảy (khoảng 5-6 ngày sau khi ban xuất hiện). Bệnh lây lan qua 4 đường:
-        Không khí, hít phải nước bọt do người bệnh hắt hơi, ho.
-        Tiếp xúc trực tiếp với dịch của mụn nước (nốt rạ) vỡ ra.
-        Tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương của người bệnh.
-        Lây từ mẹ sang con qua nhau thai.
           Bệnh thủy đậu có thể lây truyền từ mẹ sang con nếu mẹ bị bệnh lúc mang thai. Nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh. Kết quả theo dõi cho thấy, có tới 25% thai nhi bị ảnh hưởng nếu mẹ mắc bệnh thủy đậu trong thời kỳ đầu của thai kỳ. Điều nguy hiểm là, nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu trong vòng một tuần trước và sau khi sinh, có tới 30% trẻ em sinh ra có thể bị tử vong do mắc hội chứng thủy đậu do bị nhiễm bệnh thủy đậu từ mẹ quá sớm.


3. Triệu chứng
           Biểu hiện đặc trưng của bệnh là các ngoại ban ngứa dạng nốt sần và phát triển dần thành mụn nước, kèm theo sốt, đôi khi có các biểu hiện toàn thân khác. Diễn biến lâm sàng qua 4 thời kỳ.
- Ủ bệnh:
           Thường kéo dài 14-17 ngày, một số trường hợp bệnh có thể xuất hiện sớm vào ngày thứ 10 hoặc muộn đến ngày thứ 21 sau khi tiếp xúc với mầm bệnh. Những người được tiêm globulin miễn dịch với virus thủy đậu (varicella zoster immune globulin) thời kỳ ủ bệnh có thể kéo dài đến 28 ngày.
- Khởi phát:
           Đột ngột, triệu chứng đầu tiên thường biểu hiện không đặc hiệu như nhức đầu, khó chịu, sốt (38-39oC) và kém ăn. Trẻ nhỏ những triệu chứng này thường nhẹ, trong thời gian ngắn 1-2 ngày. Những trẻ lớn, tuổi vị thành niên hoặc người lớn các biểu hiện đó có xu hướng nặng hơn. Các biểu hiện tiền triệu xảy ra đồng thời với quá trình nhiễm virus huyết thứ phát và trước khi xuất hiện ban.
- Mọc ban:
           Tổn thương da xuất hiện đầu tiên, thường xuất hiện ở da đầu, lan nhanh thành từng đám liên tục xuống thân và cuối cùng là ở các chi. Ban thủy đậu bắt đầu dưới dạng các nốt ngứa, đường kính vài milimet. Các nốt này phát triển thành các mụn sần màu đỏ và từ đó tạo thành các mụn nước trong, rất dễ vỡ và đóng vảy. Đặc điểm của các mụn nước đó là chúng mọc làm nhiều đợt khác nhau. Do đó, cùng trên 1 vùng da, có thể thấy nhiều dạng khác nhau: hoặc dát đỏ, hoặc mụn nước trong, mụn nước đục, mụn đóng vảy... trong cùng 1 thời gian.
           Trẻ em, ban mọc khi tình trạng toàn thân gần như bình thường hoặc sốt nhẹ, trong khi đó ở người lớn có thể sốt cao kèm theo tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân.
           Nếu không có biến chứng, bệnh có thể khỏi sau 1-2 tuần. Cũng do thời gian tiến triển của bệnh tương đối ngắn, nên một số người đã cho thủy đậu là một bệnh nhẹ, hoàn toàn không nguy hiểm.
- Hồi phục:
           Những bệnh nhân có khả năng miễn dịch tốt, các tổn thương mới hầu như không xuất hiện thêm từ ngày thứ 4 và vảy thường hình thành từ trước ngày thứ 6. Sự tạo vảy xảy ra khi dịch mụn nước được tái hấp thụ, để lại một vảy phẳng dính trên da và sau đó bong ra nhờ quá trình tái sinh của các tế bào biểu mô. Các tổn thương có thể tiến triển từ nốt sần đến vảy trong vòng 8-12 giờ.

4. Biến chứng
-        Bệnh thường diễn biến nhẹ, tuy nhiên nếu không được chăm sóc đúng cách, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm từ bội nhiễm da để lại sẹo.
-        Một số trẻ bị xuất huyết ở các mụn thủy đậu, bệnh trở thành một thể "thủy đậu xuất huyết" rất trầm trọng, hoặc sẽ lan rộng gây viêm mô tế bào, áp xe dưới da, viêm hạch lân cận, nhiễm trùng huyết. Ngoài ra, những biến chứng như viêm phổi, viêm màng não, viêm não, viêm tủy cắt ngang gây tử vong hoặc để lại nhiều di chứng nặng.
-        Bệnh có thể gây biến chứng và nhiễm trùng nặng ở nhũ nhi dưới một tuổi, người lớn và những người có hệ miễn dịch bị suy yếu.
-        Với trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, những người bị eczema hoặc có bệnh về máu, bệnh thường nặng, nốt phỏng hay bị loét, hoại tử, có chứa chấy nhày màu xám, có khi còn gây viêm thận cấp, viêm tai giữa, viêm phổi, viêm loét giác mạc, viêm tủy thoáng qua, viêm màng não vô khuẩn.
-        Phụ nữ có thai bị thủy đậu trong nửa đầu của thai kỳ có thể gây dị dạng ở não bộ, da... của bào thai.
Một số biến chứng:
Đối với trẻ em
-        Thủy đậu bẩm sinh: Những phụ nữ bị nhiễm thủy đậu trong 3 tháng đầu hoặc 3 tháng giữa của thai kỳ có nguy cơ truyền virus sang thai nhi và ở 1-2% số trường hợp của quá trình lây nhiễm này có thể gây nên hội chứng thủy đậu bẩm sinh như: sẹo trên da, biến dạng chi, các rối loạn về mắt, khiếm khuyết hệ thần kinh trung ương, những trẻ này có thể xuất hiện bệnh zona từ khi nhỏ tuổi.
-        Trẻ nhũ nhi: Tỷ lệ biến chứng cao hơn, trẻ sinh ra ở người mẹ bị mắc thủy đậu trong những ngày cận sinh có nguy cơ mắc thủy đậu sơ sinh, nếu không được điều trị dự phòng bằng kháng thể thụ động, tỷ lệ mắc thủy đậu sơ sinh khoảng 17% và tỷ lệ chết/mắc khoảng 13%, tử vong thường do thủy đậu lan tỏa, tổn thương não hoặc do bội nhiễm vi khuẩn.
Đối với người lớn
           Tuổi vị thành niên, người lớn và những người suy giảm miễn dịch có nguy cơ xảy ra biến chứng cao gấp 25 lần so với trẻ em, phổ biến nhất ở những người khỏe mạnh là nhiễm khuẩn thứ phát tại các mụn nước bị vỡ, mất nước, viêm phổi và ảnh hưởng thần kinh trung ương.
-        Viêm não do thủy đậu: Tỷ lệ tử vong của biến chứng viêm não do thủy đậu khoảng 10% và tỷ lệ di chứng lâu dài lên tới 15% số bệnh nhân sống sót. Các biến chứng thần kinh trung ương hiếm gặp khác như viêm màng não vô khuẩn, viêm tủy cắt ngang, co giật do sốt, hội chứng guillain-barré.
-        Biến chứng hô hấp: phổ biến ở người lớn, chiếm tỷ lệ tới 20% số ca bệnh, đặc biệt ở những người hút thuốc. Các triệu chứng xuất hiện trong vòng 5 ngày sau khi xuất hiện ban, gồm: ho, khó thở, sốt, ở một vài trường hợp đau ngực kiểu viêm màng phổi hoặc ho ra máu. Tỷ lệ tử vong do biến chứng viêm phổi ở người trưởng thành lên tới 30%.
-        Các biến chứng hiếm gặp khác của thủy đậu như bệnh tiểu cầu, thủy đậu xuất huyết, cơn đau bụng cấp do xuất huyết, viêm tiểu cầu thận, viêm cơ tim, viêm khớp, viêm tinh hoàn, viêm màng bồ đào, viêm mống mắt, hội chứng Rey...Bệnh zona: Sự hoạt động trở lại của virus thủy đậu (virus thủy đậu – zona) xảy ra trong khoảng 10-20% số trường hợp nhiễm thủy đậu tiên phát và thường chỉ xảy ra một lần trong đời. Tỷ lệ mắc tăng lên theo tuổi và phổ biến hơn ở những trường hợp suy giảm miễn dịch.

5. Điều trị
-        Cách ly người bệnh để phòng lây lan (cho đến khi tất cả các mụn nước đã đóng vảy).
-        Điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa chẳng hạn, giảm sốt và đau nhức thường đi kèm các bệnh nhiễm siêu vi trong giai đoạn đầu.
-        Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).
-        Tắm thường xuyên bằng nước ấm và xà phòng trung tính sẽ bớt ngứa. Ngoài ra, có thể bôi lên da các dung dịch làm dịu và làm ẩm như dung dịch calamine.
-        Ngoài thuốc men, cần áp dụng một số biện pháp dự phòng khác. Với trẻ nhỏ, nên cắt sát móng tay để tránh tổn thương da do gãi và đề phòng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.


6. Phòng ngừa
Phòng ngừa đặc hiệu: Mọi người đều có thể chủ động phòng bệnh Thủy đậu bằng cách tiêm vắc xin phòng bệnh. Cần khuyến cáo những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó.
-        Nếu đã bị thủy đậu hoặc đã được chủng ngừa thì cơ thể được miễn dịch và được bảo vệ không mắc bệnh này lần nữa. Trong một số ít trường hợp, bệnh thủy đậu rất nhẹ có thể xảy ra ở những người đã được tiêm chủng.
-        Nếu không có miễn dịch với bệnh thủy đậu và có tiếp xúc với một người bị nhiễm bệnh, có thể ngăn ngừa nhiễm bệnh bằng cách chủng ngừa thủy đậu trong vòng 3 ngày kể từ khi có tiếp xúc. Nếu được chủng ngừa trong vòng 5 ngày kể từ khi có tiếp xúc, có thể mắc một cơn bệnh thủy đậu nhẹ hơn.
-        Việc tiêm ngừa vaccin thủy đậu không chỉ giúp bản thân tránh được bệnh mà còn ngăn chặn việc lây lan cho những người xung quanh, về lâu dài sẽ giảm được sự bùng phát dịch thường niên. Vaccin ngừa thủy đậu tạo được miễn nhiễm lâu dài gần như suốt đời, có tính an toàn cao, ít tác dụng phụ (chỉ khoảng 5% sốt nhẹ sau khi tiêm). Trẻ dưới 13 tuổi chỉ cần chích 1 liều dưới da là đủ, nhưng cũng có thể chích thêm 1 liều nữa (cách liều thứ nhất ít nhất là 3 tháng) để gia tăng hiệu quả bảo vệ tối đa, tránh bị mắc Thủy đậu dù trẻ đã được tiêm ngừa 1 liều vắc xin trước đó, do miễn dịch của trẻ với Thủy đậu giảm theo thời gian & khi dịch bùng phát quá lớn. Trẻ trên 13 tuổi và người lớn tiêm 2 liều, mỗi liều cách nhau từ 4-8 tuần.
-       Quan trọng nhất là nên chủng ngừa cho trẻ trước mùa dịch ít nhất 1 tháng. Bởi, như các loại vắc xin khác, vắc xin thủy đậu cũng cần có thời gian ít nhất là 1, 2 tuần để phát huy tác dụng. Hơn nữa trong mùa dịch, trẻ có nguy cơ tiếp xúc với người bệnh mà không biết vì bệnh có thể lây lan trước khi có triệu chứng nên đôi khi vẫn có thể mắc bệnh do đã bị nhiễm bệnh mà vắc-xin chưa kịp có tác dụng. Ngoài ra, cha mẹ cũng có thể tiết kiệm thời gian, tránh tình trạng chen chúc, chờ đợi chích ngừa khi mùa dịch đến và nhu cầu chủng ngừa tăng cao thường khan hiếm thuốc chủng ngừa.
Phòng bệnh không đặc hiệu: Mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.


7. Chăm sóc
           Thủy đậu là một bệnh nhẹ, song rất cần được chăm sóc chu đáo để không xảy ra biến chứng.
           Chăm sóc tại nhà nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng và phòng ngừa lây lan cho người khác, bao gồm việc chăm sóc da kỹ lưỡng, làm dịu triệu chứng ngứa, sự lưu tâm đặc biệt đến tăng cường nước uống và hỗ trợ dinh dưỡng.
Chăm sóc da:
           Da bị ẩm ướt và kém vệ sinh là nguyên nhân gây ngứa thêm, còn là cơ hội cho vi trùng xâm nhập vào tổn thương da gây nhiễm trùng do vậy quan trọng nhất là giữ vệ sinh da đúng cách:
-        Cho trẻ chơi, ngủ ở nơi thoáng mát để tránh bị đọng mồ hôi. Quần áo cho trẻ phải mỏng, nhẹ mát, rộng rãi, chọn vải thấm mồ hôi, tránh dùng quần áo quá dầy, có chất len dạ hoặc ủ kín gây ẩm ướt làm trẻ ngứa.
-        Giữ gìn da sạch, thoáng và khô: tắm bằng nước sạch ấm, lau rửa nhẹ nhàng tránh làm vỡ mụn nước hoặc trầy sướt da. Vệ sinh cá nhân, thay quần áo sạch hàng ngày. Cắt ngắn móng tay để tránh tổn thương da do gãi ngứa.
-        Quan sát da hàng ngày để phát hiện và điều trị kịp thời tình trạng các bóng nước bị vỡ, vết trầy sướt, nốt mủ. Bôi tại chỗ dung dịch sát khuẩn có tác dụng làm khô da như dung dịch xanh methylène. Không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ. Không bôi phấn rôm vì phấn sẽ bám lên vùng da tổn thương gây kích thích.
Dinh dưỡng:
-        Đảm bảo ăn đủ chất, uống nhiều nước. Cho trẻ ăn những thức ăn bổ dưỡng, dễ tiêu để tăng sức đề kháng cho cơ thể. Ăn nhiều rau quả giúp dễ tiêu hoá. Uống nhiều nước giúp da thải độc và đưa chất dinh dưỡng đến da.
-        Tránh những thức ăn có thể gây kích thích hoặc gây ngứa. Hạn chế những thức ăn uống ngọt chứa nhiều đường như bánh, kẹo, nước ngọt.
Phòng ngừa lây lan:
-        Mọi người đều có thể mắc bệnh thủy đậu vì vậy phòng bệnh lây lan là biện pháp rất cần thiết để góp phần ngăn chận bệnh lan rộng thành dịch.
-        Người bệnh phải cho cách ly tại nhà trong suốt thời gian từ khi bệnh bắt đầu cho đến khi bong hết vảy.
-        Cách ly với những người trong gia đình: Cho ở phòng riêng hoặc ngủ riêng, tránh tiếp xúc gần gũi với những người khác.
-        Giặt quần áo, rửa sạch và khử trùng các dụng cụ cá nhân, đồ chơi bị nhiễm dịch tiết mũi họng.
-        Rửa tay sạch bằng xà phòng trước và sau khi chăm sóc người bệnh.
Đưa trẻ đi khám bệnh ngay:
           Khi trẻ trông mệt, số lượng bóng nước nhiều, có chứa mủ, máu, sốt cao, nhức đầu, đau ngực, đau bụng, đau lưng, khó thở.
Những điều không nên làm khi bị bệnh thủy đậu:
-       Không nên kiêng tắm, cữ nước, tránh gió làm da ẩm ướt và dơ gây ngứa.
-        Không nên đắp lá cây, chọc vỡ các bóng nước gây nhiễm trùng da
-        Không nên uống aspirin, dùng thuốc có chứa corticoids dạng uống hay bôi ngoài da làm nặng thêm tình trạng bệnh.


8. Tham khảo câu hỏi
Câu 1: Một người có thể bị thủy đậu 2 lần không?
Cháu đã từng bị thủy đậu một lần. Mấy hôm nay cháu có tiếp xúc với người bị bệnh này và cháu bị nổi mấy hột đỏ ở sau gáy.
Trả lời:
           Thủy đậu là một bệnh ngoài da thường gặp ở trẻ em, tuy nhiên cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tác nhân gây bệnh là virus varicella-zoster.
           Thủy đậu là một bệnh lây qua đường hô hấp, khi hít phải những giọt nước bọt lơ lửng trong không khí do người bệnh (ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các mụn nước).
           Ngoài ra, bệnh còn có thể lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo hoặc các vật dụng cá nhân dính phải dịch tiết từ các nốt hồng ban bóng nước. Người bệnh có thể truyền bệnh cho người lành từ 5 - 7 ngày trước và sau khi phát ban, chỉ hết lây khi các nốt bóng nước đã khô và đóng mày.
           Do vậy, nếu cháu tiếp xúc với người bệnh khi các nốt trên khô và đóng mày thì không còn khả năng lây lan. Nhưng khi có tiếp xúc thì bệnh không thể phát ngay mà cần có thời gian ủ bệnh từ 10 – 15 ngày.
           Mấy nốt đỏ ở gáy và lưng của cháu có thể do dị ứng, chứ chưa phải là nốt thủy đậu. Tuy nhiên, cháu không nên dùng kim hoặc vật gì đó để đâm vào, rất dễ bị nhiễm trùng hoặc uốn ván…
           Nếu trước đây cháu đã mắc bệnh này, thì không bị lại lần 2 (theo y văn thế giới chưa ghi nhận được người bệnh mắc lần 2), nhưng virus này chỉ có thể bùng phát trở lại dưới dạng zona hay còn gọi là giời leo khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu.
Câu 2: Mẹ bị bệnh thủy đậu cho con bú được không?
Trả lời:
Nếu có thể, mẹ nên vắt sữa ra bình và nhờ người khác cho bé bú. Cho bé ngủ riêng, cách ly mẹ.
Trong trường hợp bé không chấp nhận bú bình mà chỉ bú mẹ trực tiếp thì người mẹ cần mang khẩu trang khi cho bé bú. Thời gian này nên hạn chế nói chuyện cùng bé để phòng dịch tiết bắn ra. Thận trọng đừng để bé cọ sát làm vỡ các nốt rạ và nước dịch này dính vào người bé khiến bé bị lây nhiễm.
Cắt móng tay của bé để tránh trường hợp bé dùng móng cào và làm bong các vết rạ, dịch tiết ra sẽ làm bé bị nhiễm bệnh.
           Tuy nhiên, lời khuyên tốt nhất vẫn là các bà mẹ nên chích ngừa thủy đậu trước khi có con (nếu chưa từng bị). Vì mẹ có chích ngừa và cho con bú thì kháng thể sẽ theo đường sữa vào cơ thể bé, bảo vệ bé trong 12 tháng đầu đời, dù có tiếp xúc với mầm bệnh.
Những trường hợp mẹ chưa chích ngừa nhưng bị nhiễm bệnh trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ ảnh hưởng nặng nề cho thai nhi như bị thủy đậu bẩm sinh, đa dị tật, tim, mắt, sảy thai... Người mẹ sau đó cũng rất dễ bị viêm phổi.
Gần đây, một số trường hợp cho rằng mình bị bệnh thủy đậu lần 2 là hoàn toàn không đúng. Y khoa thế giới cũng từng khẳng định, một đời người chỉ có 1 lần nhiễm bệnh thủy đậu, không có lần thứ 2. Nếu có, thì có thể đó là sự nhận dạng sai bệnh, hoặc là lần trước không phải thủy đậu hoặc lần sau không phải thủy đậu.
Câu 3: Hoa kim ngân chữa được bệnh Thủy Đậu không?
Trả lời:
Trong Đông y có nhiều bài thuốc chữa thủy đậu nhanh nhất, không cần dùng thuốc Tây. Bài thuốc chữa thủy đậu nhanh nhất được bào chế từ nhiều loại thảo dược có nhiều trong tự nhiên. Khi có hiện tượng bị thủy đậu nhẹ như có các nốt ban đỏ, sốt nhẹ bạn dùng lá dâu, cam thảo đất, rễ sậy, lá tre, cúc hoa, kim ngân hoa, kinh giới. Sắc uống.
Nếu bệnh nặng hơn, thuốc chữa thủy đậu nhanh nhất gồm cam thảo dây, lá tre, sinh địa, hoàng đằng, rễ sậy, kim ngân hoa, vỏ đậu xanh. Sắc uống. Khi bệnh có biến chứng nặng cần điều chỉnh thuốc cho phù hợp.Phép chữa là: thanh nhiệt giải độc ở khí phận, lương huyết ở doanh phận. Bài thuốc gồm: kim ngân hoa, liên kiều r, bồ công anh, sinh địa, xích thược r, chi tử (sao). Nếu phiền táo, thêm hoàng liên. Táo bón, thêm đại hoàng. Khát nước, miệng khô, thêm thiên hoa phấn, sa sâm, mạch môn. Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3 lần trong ngày, uống nóng sau khi ăn 30 phút. Trên đây là một số cách chữa thủy đậu nhanh nhất theo Đông Y, có tác dụng nhanh, an toàn, hiệu quả không gây tác dụng phụ.