1. Vài nét về mầm bệnh

           Salmonella xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng và hầu hết là do ăn phải thức ăn, sữa, nước uống... Sau khi xuyên qua hàng rào acid dạ dày, vi khuẩn di động về phía ruột non và sinh sản ở đó, tiếp tục chui qua màng nhày vào thành ruột và đi vào máu. Vi khuẩn sẽ được chuyên chở bởi những tế bào bạch cầu ở gan, lách và tủy xương. Khi đó vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở trong tế bào của những cơ quan này và quay lại dòng máu. Vi khuẩn xâm nhập vào túi mật, hệ thống ống mật và mô lympho trong ruột. Tại đây, chúng sinh sôi nảy nở với số lượng lớn.
           Bệnh thương hàn là do lây truyền qua đường ăn uống bởi nước hay thức ăn bị nhiễm. Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có thể lây ra môi trường nước xung quanh qua phân, ở giai đoạn cấp các chất thải (phân) có chứa nồng độ vi khuẩn rất cao.

2. Biểu hiện của bệnh như thế nào?

           Trung bình sau khi nhiễm bệnh 7 – 15 ngày, sẽ xuất hiện các triệu chứng  quan trọng.
           - Sốt là triệu chứng quan trọng và hằng định, sốt cao liên tục 39 – 40 độ C, sốt hình cao nguyên và sốt nóng là chủ yếu. Tùy theo trường hợp, biểu hiện thần kinh ở các mức độ khác nhau từ nhức đầu, mất ngủ, ù tai, nói ngọng, đến tình trạng nằm bất động thờ ơ với ngoại cảnh, rồi có thể li bì, mê sảng hoặc hôn mê (ít gặp).
           - Xuất hiện các ban dát nhỏ 2–3mm, màu hồng thường mọc ở bụng, mạn sườn, ngực – còn gọi là hồng ban.
           - Gan to mềm, bụng chướng nhẹ, đau dọc hố chậu phải, đi ngoài khoảng 5–6lần/ngày, phân màu vàng nâu, đặc biệt mùi rất khắm.
           - Hình ảnh rìa lưỡi đỏ, giữa lưỡi phủ một lớp rêu màu trắng hoặc xám.
           - Mạch chậm tương đối so với huyết áp, huyết áp thấp.
           - Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào lâm sàng, kết hợp với xét nghiệm máu, cấy phân và dựa vào yếu tố dịch tễ.

3. Biến chứng nào có thể xảy ra?

           Đây có thể nói là một trong các bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm nhất trong số các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa. Biến chứng có thể do nhiều nguyên nhân: do độc tố, do bội nhiễm vi khuẩn khác, do tai biến của kháng sinh.
           Xuất huyết tiêu hóa: gặp khoảng 15%, tùy mức độ mất máu mà có các biểu hiện khác nhau như vã mồ hôi, da xanh niêm mạc nhợt, đi ngoài phân đen, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.
           Thủng ruột: gặp khoảng 1 – 3%. Ngoài ra, còn có các biến chứng như: Viêm cơ tim; Trụy tim mạch; Viêm túi mật, viêm gan; Viêm não màng não, viêm cầu thận, viêm đài bể thận.

4. Ðiều trị và dự phòng như thế nào?

           Kháng sinh là thuốc đầu tay, hiện nay có rất nhiều kháng sinh có thể lựa chọn với ưu tiên là các thuốc thuộc nhóm quinolon thế hệ hai, ngoài ra có thể sử dụng các nhóm thuốc cũ như cefalosporin, choloramphenicol.
           Tùy theo tình trạng, tùy theo mức độ và tùy theo điều kiện thực tế mà bác sĩ sẽ cho chỉ định điều trị hợp lý.
           Bên cạnh dùng kháng sinh thì các vấn đề khác cũng cần được chú ý  như bù nước và điện giải, trợ tim mạch, sinh tố an thần. Trong đó bù nước và điện giải hết sức quan trọng vì với bệnh thương hàn bệnh nhân thường sốt cao. Thuốc được sử dụng đầu tay chính là dung dịch bù nước và điện giải.
           Tuy không điều trị được nguyên nhân nhưng đây là biện pháp căn bản để chống mất nước và điện giải từ đó tránh được các rối loạn do mất nước và điện giải gây ra.
           Để dự phòng, cần cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường, kiểm soát nước, chất thải, cống rãnh, khử trùng nguồn nước; cách ly và xử lý chất thải của bệnh nhân, kiểm soát chặt chẽ và điều trị người lành mang trùng.
           Vệ sinh ăn uống: uống nước đun sôi, không ăn thực phẩm sống hay nghi ngờ nhiễm trùng, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi ngoài…

           Trong vùng có nhiều người mắc bệnh hoặc vùng bị lũ lụt, ô nhiễm môi trường nặng cần được sát khuẩn bằng dung dịch Cloramin B, vôi bột. Ở những nơi bệnh thương hàn thường xuyên xảy ra nên tiêm phòng bằng vaccin, tùy từng hiệu lực của từng loại vaccin có thể tiêm nhắc lại sau 2-5 năm.