1. Định nghĩa:

           Bệnh do trypnosoma có ở châu Phi, do ruồi tse-tse (tên khác là ruồi xê xê hay ruồi Tsetse là 1 loài ruồi vùng nhiệt đới thường thấy ở châu Phi tên khoa học là Glossina thuộc họ Glossinidae trong liên họ Hippoboscoidea) truyền; có sốt dao động, nổi hạch và rối loạn thần kinh dẫn đến trạng thái ngủ lịm.

2. Nguyên nhân :

           Bệnh do một loài trùng roi sống trong máu dài 15-30 µm, phân chia theo chiều dọc và bài tiết ra nội độc tố. Đấy là ký sinh trùng chỉ sống trong hệ thống võng - nội mô.

           Ruồi đốt và hút máu của người hay động vật mắc bệnh. Ký sinh vật trải qua một chu kỳ phát triển 20-25 ngày trong ruột của ruồi rồi đến các tuyến các nước bọt. Ruồi chủ yếu đốt vào những lúc nóng trong ngày.

3. Phương thức lây truyền :

           Sự phân bố bệnh theo địa lý phụ thuộc vào sự có mặt của ruồi tse-tse. Nguồn là nguồn chứa T. gambiense còn gia súc, động vật lớn và một số loài hoẵng là nguồn chủ yếu chứa T. rhodesiense.

           Trypanosoma gambiense: do loài ruồi ưa nước Glossina palpalis sống dọc theo dòng nước ở Tây Phi và Trung Phi truyền, gây bệnh có tiến triển chậm.

           Trypanosoma rhodiense: do Glossina morsitans sống ở các vùng đồng cỏ nhiệt đới ở Đông Phi và xung quanh hồ Victoria truyền, gây bệnh có tiến triển bán cấp trong vòng 3-6 tháng.

4. Nguy cơ :

           Quá sản toàn bộ hệ thống bạch huyết, tăng sản mô võng-nội mạc ở phổi, lách và thận. Bệnh cơ tim mạn tính, viêm màng não-não tủy.

           Tỷ lệ tử vong trung bình là 50%, nếu không được điều trị là 10% đối với bệnh do T.gambiense và cao hơn đối với bệnh do T.rhodesiense. Điều trị có hiệu quả nếu được tiến hành trước khi có các rối loạn thần kinh.

5. Triệu chứng:

           Ủ bệnh: 8-20 ngày.

           Khởi phát: sốt, nhức đầu, mất ngủ. Vết đốt thường hay bị bỏ qua nhưng có khi ở tại chỗ bị đốt có mảng tím, nổi cao, đau, tồn tại vài ngày, có sưng hạch vệ tinh (vết săng).

           Giai đoạn bạch huyết-máu: sau nhiều tuần, bệnh nhân bị sốt dao động, sưng hạch chủ yếu ở vùng cổ, nách, thiếu máu, gan lách to, tổn thương thận (thiểu niệu, protein niệu, trụ niệu ) và tim mạch (nhịp tim nhanh ngay cả lúc không sốt, tim to). Bệnh do T.gambiense nặng hơn và tiến triển nhanh hơn bệnh do T.gambiense. Với T.rhodesiense, các triệu chứng thần kinh xuất hiện sau vài tháng, với T.gambiense thì các triệu chứng này chỉ xuất hiện sau nhiều năm.

            Giai đoạn viêm não màng não: cảm giác kiến bò, tăng cảm giác đau, rung cơ, liệt có hoặc không có teo cơ kèm theo, các triệu chứng tiểu não và ngoại tháp. Rối loạn giấc ngủ: thoạt tiên là mất ngủ khó chữa, rồi suy giảm trí tuệ và có những cơn buồn ngủ không thể cưỡng lại được và trạng thái ngủ lịm ngày càng nặng. Có thể có những cơn rối loạn tinh thần và các cơn động kinh. Các thể cấp tính, tiến triển như nhiễm khuẩn huyết dẫn đến tử vong trước khi não bị tổn thương (nhất là bệnh do T.rhodsiense).

6. Xét nghiệm cận lâm sàng

           - Tìm trypanosome: ở giai đoạn bach huyết máu, phải tìm ký sinh trùng ở hạch (chọc hạch), trong máu (giọt đàn, giọt đặc hay ly tâm) và trong dịch chọc rò xương ức. Phát hiện ký sinh trùng bằng cách soi trực tiếp sau khi nhuộm hay miễn dịch huỳnh quang trực tiếp. Tập trung ký sinh trùng bằng cách làm giọt đặc hay ly tâm ba lần. Có thể nuôi cấy trong môi trường NNN.

           - Dịch não tủy: lúc đầu, tế bào tăng nhẹ (500 tế bào/µl) với 50% là lympho; sau đó tăng bạch cầu (tới 5000/µl) có các tương bào, bạch cầu đơn nhân to và tăng albmin (1g/1). IgM tăng là dấu hiệu điển hình. Ký sinh vật chỉ có trong não tủy ở giai đoạn muộn; trong trường hợp ký sinh trùng có độc tính cao thì có thể xuất hiện sớm hơn.

           - Chẩn đoán huyết thanh: được tiến hành ngay thời kỳ xâm nhập trong huyết thanh (có kháng thể sớm) và ngay từ khi xuất hiện các triệu chứng trong dịch não tủy (kháng thể muộn).

                    + Miễn dịch huỳnh quang gián tiếp: dương tính >1/20.

                    + Ngưng kết hồng cầu với hạt latex.

           - Huyết đồ: thiếu máu, tăng bạch cầu, tăng tương bào.

           - Tốc độ lắng máu: tăng rõ rệt.

           - Điện di protein: có đỉnh, IgM tăng hơn bình thường 10-20 lần.

           - Hồng cầu tự ngưng kết (hay gặp).

7. Điều trị

Giai đoạn bạch huyết máu (không có tổn thương thần kinh):

           - Natri suramini: 1g theo đường tĩnh mạch vào ngày thứ nhất, thứ ba và ngày thứ bẩy; sau đó 1g mỗi tuần cho đến khi đạt tổng liều là 10g. hoặc:

           - Pentamidin: 4mg/kg theo đường mạch máu 2 ngày một lần; tiêm tổng cộng 7-10 lần.

           Do độc tính của các độc tính trên, cần phải tiêm có theo dõi tại bệnh viện. Ngoài ra, cần phải kiểm tra đều đặn dịch não tủy để phát hiện thương tổn thần kinh.

Giai đoạn não màng não:

           - Thuốc có arsen hóa trị ba, nhất là melarsoprol 3,6mg/kg theo đường tĩnh mạch tiêm trong 4 ngày. Trị liệu này cần được nhắc lại ba lần, cách nhau ít nhất một tháng. Theo dõi trong thời gian điều trị và theo dõi dịch não tủy trong thời gian là ba tháng. Kết hợp tryparsamid (30mg/kg tiêm tĩnh mạch)+ suramin (10mg/kg tiêm tĩnh mạch) 5 ngày một lần, tiêm 12 lần cũng có hiệu quả.

           - Eflornitin: ít độc hơn là các thuốc có arsen nhưng có thể gây giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu hoặc suy thận và rụng tóc.

8. Phòng bệnh:

           Diệt ruồi tse-tse bằng hóa chất và phát quang, phát hiện và điều trị người bị nhiễm ở trong vùng có bệnh lưu hành.

           Phòng bệnh bằng thuốc pentamidin 4mg/kg tiêm tĩnh mạch, 3-6 tháng một lần.