1. Nguồn gốc HIV/AIDS

Nguồn gốc  của AIDS và HIV  đã làm đau đầu các nhà khoa học  từ khi phát hiện được những ca bệnh  đầu tiên vào đầu những năm 80 của thế kỷ  trước. Trên 20 năm qua , đây là 1 chủ đề của bao cuộc tranh luận nẩy lửa ,  từ chuyện 1 tiếp viên hàng không có quan hệ tình dục bừa bãi đến 1 chương trình  thử nghiệm vaccin . Vậy thì đâu là sự thật , hay AIDS từ đâu mà có ?

Các  ca bệnh  AIDS đầu tiên được thừa  nhận xảy ra tại Mỹ vào đầu những năm  80 thế kỷ trước. Một số người tình dục đồng giới nam tại  New York và San Francisco đột nhiên mắc những bệnh nhiễm trùng cơ hội hiếm  gặp ( 5 người bị viêm phổi do Pneumocystic carinii và 26 người bị ung thư Kaposi)  mà các thầy thuốc phải bó tay. Tất cả các bệnh nhân đều bị suy giảm miễn dịch một cách kỳ lạ - hệ thống  miễn dịch của họ thậm chí không đủ sức chống đỡ các nhiễm trùng đơn giản. Chẩn đoán ban đầu là GRID, đặt theo chữ  đầu của Gay Related Immunodeficiency Disease (bệnh suy giảm miễn dịch liên quan với người tình dục đồng giới nam). Nhưng sau đó  tên này được đổi thành AIDS. Chẳng bao lâu sau đó, HIV (Human Immunodeficiency Virus) được phát hiện .

            Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở nước ta được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng thực sự dịch HIV/AIDS đã bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện chích ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó dịch bắt đầu lan ra các tỉnh. Đến cuối tháng 12/1998, toàn bộ 61 tỉnh, thành trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) trong cả nước đều đã phát hiện có người bị nhiễm HIV.

2. Khái niệm

             HIV (tiếng Anh: human immunodeficiency virus, có nghĩa virus suy giảm miễn dịch ở người) là một lentivirus (thuộc họ retrovirus) có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình trạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho những nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người bị nhiễm.

3. Biểu hiện

           Nhận biết sớm các dấu hiệu bị nhiễm HIV và được điều  trị phù hợp có thể giúp người bệnh kéo dài thời gian sống tới trên 10 năm, thậm chí 20 năm. Bệnh trải qua các giai đoạn với những biểu hiện khác nhau.

Thời kỳ đầu:

Sau khi bị nhiễm khoảng 1-2 tuần, có thể có các biểu hiện giống cúm  như: sốt, mệt mỏi, nổi hạch, phát ban, loét ở cơ quan sinh dục. Các triệu chứng sẽ tự hết trong vòng 1 tuần. Sau đó, một thời gian dài người nhiễm HIV không có biểu hiện triệu chứng gì.

Thời kỳ tiếp theo:

Xuất hiện các triệu chứng nhẹ: sút cân không rõ nguyên nhân (<10% trọng lượng cơ thể), viêm xoang, viêm amidan, viêm tai giữa, viêm hầu họng, viêm khóe miệng hoặc viêm miệng tái diễn, tổn thương do Zona ở da, phát ban sẩn ngứa, nấm móng. Khi bệnh tiến triển người bệnh có các biểu hiện sụt cân, tiêu chảy, sốt kéo dài, nấm miệng, lao phổi và màng phổi, bệnh lý cơ xương khớp, viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng, thiếu máu.

Thời kỳ bệnh nặng:

Các biểu hiện thường thấy là sút cân, sốt và tiêu chảy kéo dài, xuất hiện nhiều bệnh lý ở các cơ quan: thần kinh, mắt, hô hấp, tiêu hóa…Các dấu hiệu dễ nhận thấy ở giai đoạn này là người bệnh suy kiệt, nhiều tổn thương trên da: Zona, nấm, các tổn thương dạng sẩn, ngứa trên da, hạch to nhiều nơi, khô da, sạm da…

4. Các đường lây truyền

- Lây nhiễm qua đường quan hệ tình dục.

- Lây qua dụng cụ tiêm chích và các dụng cụ xuyên qua da.

- Truyền máu bị nhiễm HIV.

- Lây truyền từ mẹ sang con.

HIV-2 có xác suất truyền từ mẹ sang con và quan hệ tình dục ít hơn HIV-1.

HIV không lây truyền qua:

       - Giao tiếp thông thường: ôm, hôn, bắt tay, nói chuyện, ho, hắt hơi,...

          - Dùng chung nhà tắm, bể bơi, bồn tắm, mặc chung quần áo, ngồi chung ghế,...

          - Ăn uống chung bát đũa, cốc, chén,...

          - Vết cắn của côn trùng và súc vật: ruồi, muỗi, rận, chó, mèo, chim,...

5. Nguy cơ

          - Hệ thống miễn dịch suy giảm vì vậy dễ mắc các nhiễm trùng cơ hội.

          - Lây truyền từ người này sang người khác.

6. Chế độ dinh dưỡng

Nhu cầu năng lượng:

           Ở người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS nhu cầu về năng lượng sẽ tăng lên. Vì vậy, người nhiễm HIV cần ăn nhiều hơn bình thường nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.

Nhu cầu các vitamin và chất khoáng:

           Các vitamin và chất khoáng đóng vai trò quan trọng đối với tăng cường khả năng miễn dịch cho người nhiễm HIV.  Người nhiễm HIV thường bị thiếu các vitamin như A, C, E, B6, B12, acid folic và các chất khoáng như kẽm, sắt, selen vì bị mất quá mức qua bài tiết nước tiểu và phân. Cung cấp đủ các vitamin và chất khoáng này có thể giúp làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, nhu cầu vitamin và chất khoáng của người nhiễm HIV không thay đổi so với người bình thường nhưng cần phải bổ sung đa vi chất khi khẩu phần thường không đáp ứng được nhu cầu.

Để đạt được nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, người nhiễm HIV cần:

           Ăn đủ về số lượng, ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm

Chia nhỏ bữa ăn và ăn thành nhiều bữa để đạt tối đa năng lượng khẩu phần, đặc biệt khi ăn không ngon miệng.

Ăn thức ăn giàu chất dinh dưỡng đặc biệt thực phẩm tăng cường các chất dinh dưỡng thiết yếu như sắt, kẽm và vitamin nhóm B...

Nguồn thực phẩm sử dụng cho người nhiễm HIV được chia thành các nhóm như sau:

Nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng

           Tinh bột: Các loại ngũ cốc (gạo, mỳ, ngô,…) và khoai củ cung cấp tinh bột và là nguồn năng lượng chính trong khẩu phần.

Mỡ và dầu: Mỡ và dầu là nguồn năng lượng quan trọng, đặc biệt đối với những người cần thêm năng lượng để tăng cân. Mỡ và dầu cung cấp gấp hơn 2 lần năng lượng so với tinh bột đường. Chúng làm tăng cảm giác ngon miệng bởi mùi thơm ngon và cũng là nguồn cung cấp hay hòa tan các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Tuy nhiên, nếu dùng quá nhiều chất béo có thể dẫn tới béo phì hay các bệnh tim mạch. Những người nhiễm HIV có rối loạn chuyển hóa chất béo, mắc tiêu chảy thì nên hạn chế chất béo.

Protein được cung cấp từ 2 nguồn:

Nguồn động vật: Các loại thịt, trứng, sữa, và các chế phẩm của sữa. Đây là nguồn đạm chất lượng cao. Nếu có điều kiện nên ăn thường xuyên.

Nguồn thực vật: Các loại đậu đỗ, vừng, lạc. Đây là nguồn cung cấp chất đạm tốt, thậm chí hàm lượng đạm từ đỗ tương cao hơn thịt. Tuy nhiên, nên ăn phối hợp với đạm động vật để tăng giá trị dinh dưỡng.

Nhóm thực phẩm cung cấp các vitamin, khoáng chất:

Các thực phẩm giàu vitamin và chất khoáng như trái cây và rau, củ. Ngoài ra, chúng còn là nguồn chất xơ dồi dào phòng chống táo bón.

Vitamin A: Có vai trò quan trọng đối với chức năng thị lực, tăng khả năng miễn dịch, bảo vệ sự toàn vẹn của da và niêm mạc. Các nguồn thức ăn có nhiều vitamin A là rau lá có màu xanh đậm, rau củ và quả chín có màu vàng, cam và đỏ như rau muống, rau ngót, rau bí, rau giền, bí đỏ, bầu, cà rốt, quả đào, quả mơ, đu đủ, cam, xoài chín, khoai nghệ và có nhiều trong lòng đỏ trứng và gan.

Vitamin C: Giúp bảo vệ cơ thể tránh mắc các bệnh nhiễm trùng và giúp phục hồi sau bệnh, có nhiều trong các loại quả như cam, bưởi (đặc biệt là bưởi ngọt), nho, chanh, quýt, ổi, xoài, nhãn; các loại rau củ như rau ngót, cà chua, bắp cải, khoai tây,…

Vitamin E: Giúp bảo vệ tế bào và tăng sức đề kháng. Thực phẩm có chứa nhiều vitamin E là rau lá có màu xanh, giá đỗ, các loại rau mầm, dầu thực vật, lạc và lòng đỏ trứng.

            Vitamin nhóm B: Cần thiết để duy trì hệ miễn dịch và hệ thần kinh khỏe mạnh. Nguồn chứa nhiều vitamin nhóm B là đậu đỗ (hạt), khoai tây, thịt cá, dưa hấu, ngô, lạc, quả lê, súp lơ, rau má. Lưu ý, những người nhiễm HIV đang điều trị lao cần bổ sung và ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin B6 (gan, đậu đỗ...)

Sắt: Cần thiết cho quá trình tạo máu và hệ miễn dịch. Các nguồn thực phẩm có nhiều sắt là rau lá có màu xanh đậm như rau ngót, rau muống, rau cải xoong, hạt có dầu, ngũ cốc nguyên hạt (gạo lức); các loại quả có màu vàng, da cam như xoài, đu đủ, cam... và các loại thịt có màu đỏ như thịt bò, thịt nạc, tiết, gan, cá, hải sản và trứng; trái cây khô (nhãn, vải), kê, đậu đỗ (đặc biệt là đỗ tương).

           Selen: Là khoáng chất quan trọng vì nó kích thích hệ miễn dịch. Nguồn thực phẩm nhiều selen là bánh mỳ, ngô, kê; sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, pho mát, bơ. Thịt, cá, gia cầm, trứng, lạc và đậu đỗ là nguồn giàu protein nhưng cũng là nguồn selen tốt.

           Kẽm: Đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch. Thiếu kẽm làm giảm ngon miệng, tăng nguy cơ nhiễm trùng cơ hội và kéo dài thời gian mắc bệnh. Các nguồn thực phẩm giàu kẽm là thịt, cá, gia cầm, các loại hải sản (nghêu, sò, cua, ốc, hến...), ngũ cốc nguyên hạt, ngô, đậu, lạc, sữa và các sản phẩm từ sữa.

Chất xơ:

           Chất xơ đóng vai trò quan trọng tác động đến nhu động ruột, giúp mang lượng lớn thức ăn và vận chuyển nó qua đường tiêu hóa.

           Có hai dạng chất xơ: hòa tan và không hòa tan. Chất xơ hòa tan có nhiều trong các loại trái cây, có tác dụng kéo các chất cặn bã ra khỏi đường ruột rồi đẩy ra ngoài. Chất xơ không hòa tan kích thích nhu động ruột đều đặn và phòng táo bón.

           Những người mắc tiêu chảy nên tránh chất xơ không tan vì nó làm tình trạng tiêu chảy trầm trọng hơn.

Nước:

           Nước chiếm hơn 70% trọng lượng cơ thể, trẻ càng nhỏ tỷ lệ nước càng cao và đóng vai trò quan trọng trong các chức phận của cơ thể. Cơ thể mất nước qua hơi thở, mồ hôi, nước tiểu và phân, đặc biệt khi bị sốt và tiêu chảy. Vì vậy cần được bù nước thường xuyên. Nước uống phải sạch và đun sôi khi sử dụng. Uống từ 1,5 đến 2 lít nước/ ngày.

Người nhiễm HIV không nên uống trà và cà phê vì làm giảm hấp thu sắt và gây khó ngủ.

7. Phương pháp phòng tránh

Thực hiện cuộc sống tình dục lành mạnh, chung thuỷ với một bạn tình duy nhất            

Là lá chắn ngăn chặn HIV và các bệnh tật khác bảo vệ cho bạn có sức khoẻ tốt và có cuộc sống lứa đôi hạnh phúc.

Thực hiện các hành vi tình dục an toàn hơn hoặc áp dụng kiểu tình dục không thâm nhập - tức là chỉ vuốt ve âu yếm.

Luôn sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục.

Đảm bảo truyền máu an toàn, sàng lọc người cho máu và sàng lọc các túi máu trước khi truyền.

Thực hiện vô trùng các dụng cụ xuyên chích qua da đúng phương pháp

8. Các câu hỏi liên quan

8.1. Thời gian vi rút HIV sống trong môi trường bên ngoài?

Trong 1 cơ thể sống của người có HIV tồn tại sau khi người đó qua đời, virus HIV cũng sẽ chỉ tồn tại trong xác của người đó trong vòng 24h.

Virus HIV nếu tồn tại trong không khí với nhiệt độ từ 32 - 36 độ thì tồn tại không quá ... 5 phút ( còn tùy thuộc theo số lượng virus).

Tất nhiên với nhiệt độ trên nhưng nếu tồn tại trong 1 giọt máu (rơi trên đường hoặc trong kim tiêm) thì : Trên đường: 24h - 48h. Trừ trường hợp Tia Nắng Mặt Trời mà rọi trực tiếp chỉ trong 30p. Còn trong chỗ tối, khe ẩm ướt thì có thể được 48h - 1 tuần. Trong kim tiêm: 48h - 7 ngày (tùy trường hợp). Vì trong kim tiêm giọt máu được lưu trữ tốt hơn, và kim tiêm sau khi được sử dụng thì thường hay được giấu vào khe tối hoặc bụi rậm nơi không khí ẩm ướt nên có cơ hội tồn tại lâu hơn, chính vì điều này lời khuyên cho mọi người là không nên đi vào các bụi cỏ, bụi rậm cũng như để trẻ em chạy nhảy trong đó.

           Về mặt hóa học:

           + HIV có thể tồn tại ở trong xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24giờ.

           + Nhiệt độ dưới 00C, tia X, tia cực tím không giết được HIV.

           + Tuy nhiên, khi ở ngoài cơ thể, dưới tác động của nhiệt độ và các chất sát trùng thông thường HIV bị tiêu diệt. Ví dụ HIV bị tiêu diệt sau 30 phút ngâm trong cồn 700, dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1% . . .

           Do vậy, nếu ta ngâm dụng cụ tiêm, chích trong cồn 700 hoặc quần áo, đồ vải có dính máu nhiễm HIV vào dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1% trong 30 phút . . . có thể tiêu diệt được HIV.

           Nếu bị đun sôi trong 20 phút (kể từ khi nước sôi) thì HIV sẽ bị chết.

           Do vậy, nếu chúng ta luộc các dụng cụ phẫu thuật, tiêm, chích . . . (bằng thủy tinh hay kim loại) 20 phút kể từ khi nước sôi trước mỗi khi sử dụng thì đã có thể diệt được HIV . . .

Virus HIV không tồn tại lâu được trong môi trường nước vì 1 số lí do sau :

Thường môi trường nước HIV chú ẩn là ao, sông, suối , hồ hoặc phổ biến nhất là trong các vũng nước thì lượng virus HIV sống trong đấy rất ít, không đủ khả năng lây nhiễm (thậm chí là máu người có HIV rơi vào trong đó với tỉ lệ ít cũng rất khó tồn tại).

Nhưng nếu là kim tiêm trong nước thì ... có khả năng HIV sống được từ 2 ngày - 1 tuần , vì như đã nói, HIV trong kim tiêm được bảo quản tốt hơn.

Và không thể bỏ qua nhiệt độ của môi trường nước nữa, nếu nhiệt độ từ 25 - 35 thì HIV có thể sống.

Nhưng nếu nhiệt độ của nước lên hơn 90 độ và giữ nguyên trong 20p HIV không tồn tại được.

Và trong môi trường kiềm hay axit nhìều thì HIV cũng khó sống hơn, cả môi trường nước xà phòng và các hóa chất tẩy trùng khác như Cồn 90 độ, oxy già.

8.2. Mẹ có HIV có nên cho con bú?

Hiện nay, nhiều bà mẹ mang thai khi biết mình nhiễm HIV vẫn muốn sinh con. Vậy phụ nữ nhiễm HIV nên cho con bú sữa mẹ hay cho ăn sữa thay thế? Bà mẹ có HIV có nên nuôi con bằng sữa mẹ.

Dù với nồng độ không cao nhưng HIV cũng có trong sữa mẹ nên nó có thể lây nhiễm cho trẻ khi bú sữa người mẹ nhiễm HIV. Khi trẻ bú mẹ, HIV từ sữa mẹ có thể xâm nhập qua niêm mạc miệng, lưỡi, lợi của đứa trẻ và lây nhiễm cho trẻ này, nhất là trong trường hợp trẻ có các viêm nhiễm trong khoang miệng. Hoặc trong trường hợp vú mẹ có viêm nhiễm, có vết nứt hay khi trẻ mọc răng cắn gây chảy máu thì HIV còn có thể theo máu vào miệng trẻ, xâm nhập qua niêm mạc trong khoang miệng và gây nhiễm HIV cho trẻ. Khoảng 20-30% số trẻ em bị nhiễm HIV từ mẹ được cho là bị lây qua bú sữa mẹ, tùy thuộc vào thời gian và cách nuôi con bằng sữa mẹ.

8.3. Có nên vừa cho trẻ bú sữa mẹ vừa cho bú sữa ngoài:

           Tuyệt đối không cho trẻ vừa bú sữa mẹ vừa cho bú sữa ngoài vì như thế em bé sẽ tăng nguy cơ bị nhiễm HIV. Việc làm này có thể là nguyên nhân gây tiêu chảy, phá hoại ruột trẻ và làm virut HIV dễ dàng xâm nhập vào cơ thể trẻ.

           Tuy nhiên, trẻ có thể bị dị ứng với sữa bột với các dấu hiệu mẩn đỏ ở da, tiêu chảy, chướng bụng hoặc táo bón, vì vậy trong vòng 6 tháng đầu, cần tránh cho trẻ dùng những loại sữa đặc có đường, sữa gầy và sữa ít chất béo.

           Nếu không có đủ điều kiện để cho em bé bú sữa ngoài hoàn toàn thì chỉ nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong vài tháng đầu và cai sữa cho em bé càng sớm càng tốt, cai sữa chậm nhất là khi em bé được 6 tháng tuổi. Sau đó tiếp tục nuôi em bé bằng sữa ngoài.

           Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã đưa ra khuyến cáo người mẹ nhiễm HIV không nên cho con bú vì HIV có trong sữa mẹ và có thể truyền sang con khi cho bú. Vì vậy, phụ nữ nhiễm HIV nên nuôi con bằng sữa thay thế. Hiện nay thức ăn thay thế sữa mẹ hiệu quả là sữa bột; không được thay thế sữa mẹ bằng nước hoa quả, nước đường hoặc cháo hay bột.

           Bên cạnh đó, trẻ cần được đưa đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được theo dõi và xét nghiệm nhằm xác định sớm tình trạng nhiễm HIV, điều trị dự phòng các nhiễm trùng cơ hội.

8.4. Bị nhiễm HIV có thụ tinh nhân tạo được không:

Chồng bị HIV dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo thì người vợ có nhiễm HIV không?

Trường hợp này có thể bị lây truyền HIV. Do vậy,cũng như hiến máu, để phòng tránh HIV qua thụ tinh nhân tạo, người cho tinh dịch bắt buộc phải xét nghiệm HIV với kết quả âm tính. Trong mọi trường hợp, nên xin ý kiến bác sĩ chuyên khoa.

8.4. Muỗi đốt người bị HIV rời đốt người lành có bị HIV không?

           HIV chỉ gây bệnh cho người. Cơ thể muỗi không có điều kiện cho HIV tồn tại và phát triển nên muỗi không bị bệnh và cũng không truyền bệnh, chứ không hải tại muỗi có sức đề kháng với HIV.

8.5. Bạn trai em bị bệnh lao có uống thêm loại thuốc kí hiệu là M152, đó là thuốc gì? có phải thuốc điều trị HIV không?

           Trước hết em nên bình tĩnh bởi có rất nhiều loại thuốc trên thị trường với các ký tự có thể gây nhầm lẫn.

           Thuốc M152 có thể là thuốc ARV kháng HIV. Trong thành phần thuốc có ký hiệu M152 gồm 3 loại thuốc kết hợp: Lamivudine 30mg (ký hiệu viết tắc: 3TC) + Tenoforvir 300g (TDF) + Efavirenz 600mg (EFV).

            Em nên trao đổi hoặc tìm hiểu kỹ hơn về bạn trai em để tránh lây HIV từ bạn trai. Nếu bạn trai em chỉ bị bệnh lao thôi thì có thể điều trị khỏi nên em không quá lo âu, còn nếu có kết hợp nhiễm HIV thì em cần suy nghĩ kỹ về mối quan hệ của cả 2 để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả.

8.6 Em quan hệ với gái mại dâm bị tuột BCS

Em đã đi xét nghiệm Determine HIV 1/2 ở thời gian 25 ngày và 44 ngày, kết quả âm tính. Có các triệu chứng như: Nổi mẫn đỏ trên da, ngứa, tiêu chảy 02 ngày, uống thuốc khỏi bệnh, tê tay chân, đau nhứt cơ khớp rất lạ, em chưa có tiền sử bệnh cơ khớp, có nổi 2 hạch bênh cổ (hạch vừa, không to lắm), cổ họng như bị viêm, môi lúc nào cũng bị khô miệng, đau 2 gân cổ phía sau gáy, nhứt đầu không rõ nguyên nhân, lúc đau lúc không.

Khả năng nhiễm HIV của em có cao không ? Và với kết quả âm tính ở 6 tuần 2 ngày em an tâm được phần nào không?

            Khả năng lây nhiễm HIV khi quan hệ bị tuột BCS mà ko biết là có thể xảy ra. Tuy nhiên nếu xét nghiệm Determin HIV 1/2 âm tính sau nguy cơ 6 tuần thì rất khả quan. bởi vì kháng thể sẽ tạo ra từ tuần thứ 2 và tăng dần, Determin lại nhạy nên dễ cho ra phản ứng dương tính nếu bị nhiễm HIV. Nhưng theo khuyến cáo bạn cần xét nghiệm lại 3 tháng sau nguy cơ, kết quả khó thay đổi. Các triệu chứng ko nói lên việc nhiễm hay ko nhiễm bạn đừng quá lo lắng.

9. Chỉ số xét nghiệm

9.1. Trường hợp làm 3 PP xét nghiệm:

           1) - Xét nghiệm ELISA 1 (BIO-RAD) với các kháng nguyên gp160, p25, gp36.

           2) - Xét nghiệm serodia SFD (Fujirebio) với các kháng nguyên gp41, p24, gp36.

           3) - Xét nghiệm nhanh Determine HIV1 /2 với các kháng nguyên của HIV1 (gp41), HIV2 (gp36), conjugate là các kháng thể kháng HIV1, HIV2 gắn selenium colloid.

           1: Elisa 1 Murex HIV 1/2 - kết quả : DO/CO: 0.083/0,227.  cái này còn ghi thiếu chỉ định . Kết quả dưới chỉ định = Âm Tính.

           2: SFD - kết quả - Không phản ứng. ...xét nghiệm này là SERODIA = Âm Tính

           3: Kỹ thuật nhanh Determine HIV 1/2 Có phản ứng ...tức là chưa được rõ ràng  = không dương cũng không Âm ,cần xét nghiệm lại.

           Nhưng kết luận của kết quả thì khẳng định : chưa phát hiện kháng thể kháng hiv.

Để khẳng định 1 người nhiễm thì 3 PP sau đây:

Xét nghiệm

lần thứ nhất

Xét nghiệm

lần thứ 2

Xét nghiệm

lần thứ ba

Kết quả

Secrodia-HIV hoặc Quik test

ELISA-HIV Uni-form II

ELISA Genscreen HIV

Ba xét nghiệm bên dương tính, cho kết quả dương tính với kháng thể HIV.

ELISA-HIV Uni-form II

Serodia-HIV hoặc Quick test

ELISA Genscreen HIV

Ba xét nghiệm bên dương tính, cho kết quả dương tính với kháng thể HIV.

ELISA-HIV Uni-form II

Serodia-HIV hoặc Quick test

ELISA-HIV Uni-form II

Ba xét nghiệm bên dương tính, cho kết quả dương tính với kháng thể HIV.

Serodia-HIV hoặc Quick test

ELISA-HIV Genscreen HIV

ELISA-HIV Uni-form II

Ba xét nghiệm bên dương tính, cho kết quả dương tính với kháng thể HIV

9.2. Xét nghiệm Combo:

Xét nghiệm chẩn đoán này do Công ty Abbott phát triển nhằm phát hiện virus HIV một cách sớm nhất và chính xác nhất chỉ vài tuần sau khi virus này vừa xâm nhập vào cơ thể.

Xét nghiệm có tên gọi “ARCHITECT HIV Ag/Ab Combo” đã được áp dụng tại châu Âu từ năm 2004 và thường được sử dụng tại các nước như Anh và Pháp.

Xét nghiệm này có thể phát hiện ít nhất 90% số trường hợp lây nhiễm cấp tính, những người mới bị lây nhiễm ở giai đoạn đầu. Phương pháp xét nghiệm cũ chỉ có thể phát hiện virus HIV thông qua xét nghiệm máu trên cơ sở phát hiện kháng thể của người nhiễm, mà kháng thể thì chưa thể xuất hiện vào những tuần đầu nhiễm virus.

Hiện nay  có 2 loại xét nghiệm về HIV:

HIV/ Anti HIV: phát hiện kháng thể kháng virus HIV nên xét nghiệm khi nghi tiếp xúc với nguy cơ nhiễm trên 3 tháng.

HIVAg/AbCombo: phát hiện cả kháng nguyên lẫn kháng thể… trong thời gian sớm từ tuần thứ 3 trở đi (tức là từ 22 ngày sau).

9.3. Phụ nữ mang thai:

Với phụ nữ mang thai tốt nhất là xét nghiệm HIV trước 28 tuần tuổi thai (nếu nhiễm HIV sẽ được chăm sóc và điều trị kịp thời dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con). Hiện phụ nữ mang thai được tư vấn và làm xét nghiệm miễn phí toàn bộ tại các phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện. Ngoài ra, tại các Trung tâm Y tế các huyện/thành phố đều có cán bộ chuyên trách về công tác phòng chống AIDS, các phụ nữ sẽ được tư vấn về vấn đề này và sẽ được giới thiệu đến các dịch vụ dự phòng lây truyền mẹ con. 

10. Phơi nhiễm HIV

10.1. Khái niệm:

            Theo định nghĩa của Bộ Y tế thì phơi nhiễm HIV là thuật ngữ dùng để chỉ sự tiếp xúc niêm mạc hay da không nguyên vẹn với máu, mô hay các dịch cơ thể khác có nguy cơ lây nhiễm HIV.

10.2. Triệu chứng:  

           Như vậy, trong cuộc sống có thể gặp phải những trường hợp được gọi là phơi nhiễm HIV do:

           - Bị kim đâm vào khi làm thủ thuật y tế tiêm truyền hoặc lấy máu làm xét nghiệm.

           - Vết thương do dao mổ hay các dụng cụ sắc nhọn đã dùng cho người nhiễm HIV/AIDS chọc, đâm vào gây chảy máu.

           - Bị tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc chất dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào.

           - Máu, chất dịch của người có HIV bắn vào các vùng da bị tổn thương, vào niêm mạc (mắt, mũi, họng).

           - Bị người khác dùng kim tiêm đã sử dụng có máu (có chứa virus HIV) đâm vào, hoặc những người trong khi làm nhiệm vụ (công an, bác sỹ…) cấp cứu tai nạn giao thông, bắt tội phạm…

           Trong trường hợp không may gặp những rủi ro này, người trong cuộc sẽ không tránh khỏi sự lo lắng, sợ hãi và bối rối vì không biết xử lý thế nào. Trong thực tế, không phải trường hợp nào người bị phơi nhiễm HIV cũng đồng nghĩa với việc bị nhiễm HIV. Điều này còn tuỳ thuộc vào từng hành vi cụ thể và mức độ nguy cơ của những hành vi đó. Trong trường hợp gặp rủi ro, việc xử lý sau phơi nhiễm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV.

10.3. Quy trình xử lý:

Trước tiên, bạn hãy xử lý vết thương tại chỗ:

Với tổn thương da chảy máu:

Rửa ngay vết thương dưới vòi nước.

Để vết thương chảy máu trong thời gian ngắn.

Rửa kỹ bằng xà phòng, sát trùng bằng các dung dịch sát khuẩn (Dakin, Javen 1/10 hoặc cồn y tế) trong thời gian ít nhất là 5 phút.

Nếu phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCL 0,9% liên tục trong vòng 5 phút.

Phơi nhiễm qua niêm mạc miệng, mũi: Rửa bằng nước cất hoặc nước muối (NaCL) 0,9%. Xúc miệng bằng nước NaCL 0,9% nhiều lần.

Sau đó, hãy đánh giá nguy cơ phơi nhiễm theo các mức độ sau:

Nguy cơ cao:

Tổn thương qua da sâu, chảy máu nhiều.  

Máu và các dịch của người có H bắn vào các vết thương, niêm mạc bị loét rộng từ trước.

Nguy cơ thấp:

Tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít.

Máu và chất dịch cơ thể bắn vào niêm mạc không bị tổn thương , viêm loét.

Không có nguy cơ:

Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào vùng da lành, không bị tổn thương.

11. Phác đồ điều trị HIV

           Việc điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS khá phức tạp và tốn kém nhưng chỉ giúp kéo dài sự sống chứ không chữa khỏi được bệnh. Điều trị HIV bằng thuốc kháng virus ARV ở Việt Nam hiện có 2 phác đồ (bậc 1, bậc 2). Phác đồ bậc 3 chưa thật sự phổ biến và chi phí khá đắt đỏ, người bệnh muốn tiếp cận điều trị cần đến bệnh viện Nhiệt đới Trung ương để được tư vấn.

11.1. Tác dụng của các thuốc điều trị HIV

            - Ức chế sự nhân lên của virus: Các thuốc chống virus ức chế sự phát triển và nhân lên của HIV ở những giai đoạn khác nhau trong vòng đời của virus.

            - Điều hoà miễn dịch:  Alpha-interferon, interleukin 2, Ioprinasine,...

            - Phòng ngừa và điều trị bệnh cơ hội.

11.2. Các phác đồ điều trị ARV bậc 1

            - Phác đồ chính AZT + 3TC + NVP hoặc d4T + 3TC + NVP được sử dụng theo chỉ dẫn của bác sĩ với tùy từng đối tượng khác nhau

            - Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này cho tất cả các người bệnh bắt đầu điều trị ARV

Một số lưu ý khi điều trị theo phác đồ bậc 1

            - Xét nghiệm Hgb, ALT, AST  trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu hoặc ngộ độc gan.

            - Không bắt đầu điều trị phác đồ này cho người bệnh khi Hgb < 80 g/l; thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ nữ có CD4 >250/mm3.

            - Thận trọng khi sử dụng NVP trên người bệnh có ATL > 2,5 lần trị số bình thường, người bệnh điều trị lao phác đồ có rifampicin, phụ nữ có CD4 >250 /mm3.

Phác đồ thay thế

            - Sử dụng các loại thuốc AZT + 3TC + EFV hoặc d4T + 3TC + EFV theo chỉ định của bác sĩ

            - Chỉ định: Sử dụng một trong hai phác đồ này khi người bệnh không sử dụng được NVP

Lưu ý khi sử dụng:

            - Xét nghiệm Hgb trước điều trị, sau 1 tháng và sau đó 6 tháng/lần hoặc khi nghi ngờ có thiếu máu.

            - Không bắt đầu điều trị phác đồ này cho người bệnh khi Hgb < 80 g/l và hoặc phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu. Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử).

            - Không dùng EFV cùng thức ăn có nhiều chất béo

            - Không điều trị phác đồ có EFV cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu. Không dùng EFV cho người bệnh tâm thần (hiện tại hoặc tiền sử).

            - Trường hợp bệnh nhân không sử dụng được một trong số các loại thuốc trên trong mỗi phác đồ, bác sĩ sẽ điều chỉnh lại hoặc thay thế bằng các thuốc khác

11.3. Phác đồ điều trị HIV bậc 2

            - Việc lựa chọn phác đồ bạc 2 tùy thuộc vào phác đồ 1 một mà bệnh nhân đang dùng. Nói đến phác đồ bậc 2 không có nghĩa là tốt hơn phác đồ bậc 1. Người bệnh chỉ được chuyển sang phác đồ bậc 2 khi được đánh giá thất bại điều trị. Khi chuyển sang phác đồ bậc 2, người bệnh phải tuân thủ như phác đồ bậc 1

             Việc lựa chọn phác đồ ở mỗi cá thể là khác nhau và cần lưu ý một số vấn đề như sau:

            - Chỉ dùng ATV cho trẻ trên 6 tuổi.

            - Xem liều lượng của các thuốc trong phác đồ bậc 2 tại bảng Liều ARV Nhi khoa – Chuẩn hóa theo Chỉ số phát triển trẻ em Việt Nam

            - Không dùng EFV cho trẻ dưới 3 tuổi và dưới 10kg.

11.4. Phác đồ điều trị HIV bậc 3

            - Phác đồ điều trị HIV bậc 3 đã có ở trên thế giới nhưng ở Việt Nam vẫn còn chưa phổ biến vì mức điều trị tương đối cao, khoảng 10 triệu đồng/ tháng. Người bệnh muốn tiếp cận điều trị cần đến khám tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương (Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội)

            - Để đạt hiệu quả cao trong điều trị ARV, giảm nguy cơ kháng thuốc, người bệnh cần tuân thủ điều trị tốt. Đồng thời người bệnh cần thực hiện các hành vi an toàn phòng lây nhiễm thêm các dòng HIV mới, đặc biệt là HIV kháng thuốc. Phác đồ bậc 2 là một giải pháp tốt nhất khi người bệnh kháng thuốc (kháng phác đồ bậc 1) và nếu như kháng phác đồ bậc 2 thì thật nguy hiểm trong khi phác đồ bậc 3 chưa thật sự phổ biến và chi phí điều trị khá cao.