1. Khái niệm

           Bệnh viêm gan B là một căn bệnh tấn công lá gan. Căn bệnh này do virus viêm gan b (HBV - Hepatitis B virus) gây ra. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới gan và gây thiệt hại nặng nề cho các tế bào gan.

2. Triệu chứng

Viêm gan B có thể chia làm nhiều loại: cấp, mãn hay thể kéo dài. Tuy mỗi dạng có những đặc trưng riêng, nhưng đều có chung một số triệu chứng sau:

Người mới bị viêm gan virus B cấp, thường bị sốt nhẹ trong những ngày đầu của bệnh. Tuy nhiên, những người bị viêm virus B mãn cũng có thể sốt nhẹ nhưng bệnh nhân thường bị sốt thất thường vào chiều.

Bệnh nhân có cảm giác người rất mệt mỏi, không muốn ăn uống, không muốn đi lại. Triệu chứng này tồn tại ở đa số bệnh nhân với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cũng có những bệnh nhân viêm gan virus B chỉ có triệu chứng mệt mỏi là duy nhất.

Bệnh nhân có thể có rối loạn tiêu hoá, thể hiện: Khi ăn vào ậm ạch khó tiêu, đi ngoài phân lỏng, nát… Đặc biệt, với những trường hợp viêm gan B có ứ mật nặng thì phân bị bạc màu.

Bệnh nhân có nước tiểu vàng. Có nhiều bệnh nhân bị Viem gan B không thể hiện những triệu chứng trên mà chỉ có hai triệu chứng là mệt mỏi và đi tiểu vàng.

Một số bệnh nhân có biểu hiện đau tức vùng gan.

Triệu chứng vàng da. Điều này rất có ý nghĩa thúc đẩy người bệnh nghĩ đến việc mình bị viêm gan và đi khám bệnh. Tuy nhiên, có rất nhiều bệnh nhân bị viêm gan B mà không hề bị vàng da. Lúc này, cần để ý tới các triệu chứng khác để nghĩ đến khả năng bị viêm gan B.

Khi bệnh nhân có các triệu chứng nêu trên mà xét nghiệm HBsAg (+) dương tính và men gan tăng thì khả năng chắc chắn là bị viêm gan do virus viêm gan B ( sau 15 - 30  ngày kể từ nhiễm bệnh xét nghiêm sẽ cho kết quả chính xác).

Các triệu chứng thường xuất hiện 4 - 6 tuần sau khi nhiễm HBV và có thể từ nhẹ đến nặng, gồm một số hoặc đủ các triệu chứng sau đây: chán ăn, buồn nôn và nôn, ốm yếu và mệt mỏi, đau bụng vùng gan, vàng da và vàng mắt, đau khớp, nước tiểu sẫm màu.

           Sốt kéo dài: Khi bị viêm gan nặng có thể xuất hiện hiện tượng sốt kéo dài, Chính là do chứng chất độc bên trong dồn vào máu hoặc tế bào gan bị hoại tử tính tiến hành.

            Khuynh hướng xuất huyết: Da xuất hiện ban xuất huyết hoặc chấm ứ máu, chân răng hoặc mũi xuất huyết, đây là do cơ chế đông máu của bệnh nhân bị phá hoại. Một số ít bệnh nhân có thể trực tiếp phát những triệu chứng xuất huyết đường tiêu hóa như trên (như phân đen, phân có dạng nhựa đường). Đây là biểu hiện về xu hướng nặng thêm của bệnh.

           Trở ngại về ý thức: Nếu người bệnh xuất hiện ý nghĩ mông lung, nói lập đi lập lại, hoặc nói không có thứ tự, ngủ đảo ngược (tức ban ngày có triệu chứng ức chế thích ngủ nhưng ban đêm lại tỉnh táo, mất ngủ), tinh thần như tỉnh như mê, có khi không điều khiển được đại tiểu tiện… thì điều đó chứng tỏ viêm gan nặng, ý thức có trở ngại. Bệnh nhân đã bị suy gan và đây cũng là dấu hiệu của hôn mê do gan, hoặc bước vào giai đoạn hôn mê do gan.

3. Các thể nhiễm bệnh

a. Viêm gan B cấp tính:

          Viêm gan B cấp tính là giai đoạn đầu của bệnh viêm gan B, phát sinh đột xuất và thời gian lâm bệnh ngắn, phần lớn người bệnh được phục hồi sau khoảng 1 - 2 tháng. Tuy nhiên, có trường hợp kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm hoặc tiến triển thành bệnh viêm gan B mãn tính, suy gan.

Thời gian ủ bệnh từ 1 - 6 tháng. Một số bệnh nhân có cảm giác như bị cảm nhẹ, đôi khi không biết mình bị nhiễm gan B. Một số khác bị vàng da, mệt mỏi, đau nhức, buồn ói, chán ăn, sốt nhẹ, biến đổi cảm giác (hiện tượng đặc biệt là người nghiện thuốc lá tự nhiên không thích mùi thuốc lá), đau bụng (dưới sườn bên phải). Những trường hợp bị viêm nặng sẽ đưa đến gan to, khó ngủ, mê muội, lãng trí hoặc bất tỉnh.

Biểu hiện lâm sàng: Tăng nhiệt độ, vàng da (1 tuần sau khi bị nhiễm và có thể kéo dài đến 1-3 tháng), gan to, lách to.

        Khi siêu âm: Cấu trúc gan ít thay đổi có thể chỉ to nhẹ.

 

b. Viên gan B mạn tính:

Phần lớn khi bị viêm gan B mạn tính bệnh nhân cảm thấy hoàn toàn bình thường. Một số bị viêm mạn tính nặng thì tiếp tục bị các triệu chứng viêm cấp như mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, và suy gan.

Biểu hiện lâm sàng: Gan to, bàn tay ửng đỏ. Khi bị biến chứng xơ gan có thể bị ứ nước trong bụng, vàng da, loãng máu, chảy máu trong dạ dày, tĩnh mạch toả lớn từ rốn (do tăng áp làm giãn tĩnh mạch cửa gan), nam vú lớn như vú nữ, tinh hoàn teo nhỏ (vì gan yếu làm thay đổi cân bằng của các hormone giới tính).

       Khi siêu âm: Tùy tình trạng nhẹ đến nặng có thể cấu trúc thô, bờ gan không đều, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, lách to...

 

4. Các biến chứng do viêm gan B

 

Viêm gan B nếu không được điều trị sẽ dẫn đến những hậu quả làm gan bị tổn thương và gây nguy hiểm đến sức khỏe người bệnh. Viêm gan B có một số những biến chứng nguy hiểm  như:

Xơ gan (sẹo ở gan):

- Viêm gan B mạn tính có thể diễn tiến thành xơ gan (sẹo hóa nhiều hay xơ hóa). Sẹo trong gan có thể làm suy giảm chức năng gan.

- Người bệnh có thể có dấu hiệu yếu người, mệt mỏi, dễ bị nhiễm khuẩn. Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng.

- Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám và điều trị sớm làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo.

Suy gan (suy giảm chức năng gan):

- Diễn tiến của xơ gan dẫn tới xơ gan cấp tính, là giai đoạn cuối của xơ gan hay suy gan mạn. Biểu hiện rõ rệt nhất là suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

- Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện.

- Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan. Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình.

- Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa. Bệnh nhân có thể tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.

Ung thư gan: Những người bị nhiễm viêm gan B mạn tính có tăng nguy cơ ung thư gan.

- Triệu chứng thường gặp nhất của ung thư gan là đau bụng và phù, cường lách, sụt cân và sốt. Ngoài ra, khối u gan có thể sản xuất và phóng thích những chất làm tăng hồng cầu, giảm đường máu và tăng canxi máu.

- Ung thư gan là bệnh trầm trọng, diễn biến nhanh, điều trị khó khăn, trong khi đó phần lớn bệnh nhân ung thư gan được phát hiện thường ở giai đoạn muộn.

Viêm gan D

- Bất cứ ai nhiễm virus viêm gan siêu vi B cũng dễ nhiễm chủng virus viêm gan khác đó là viêm gan D, một người không thể nhiễm viêm gan D nếu không bị nhiễm HBV. Lúc này, cả viêm gan B và viêm gan D sẽ cùng nhau hủy hoại tế bào gan nặng nề hơn.

 

Bệnh não do gan: Đây là biến chứng nguy hiểm của bệnh viêm gan siêu vi B.

- Ban đầu bệnh nhân thấy bứt rứt, khó chịu, nằm không yên, khó ngủ rồi sau đó là trạng thái tâm thần không ổn định, dễ kích thích, mất định hướng thời gian và không gian. Tiếp đó, người bệnh rơi vào trạng thái rối loạn tâm thần cấp tính, mê sảng rồi đi vào hôn mê dần dần.

Viêm cầu thận

- Người nhiễm viêm gan B có thể bị viêm cầu thận, tuy nhiên tỉ lệ này thấp. Trẻ em có nhiều khả năng phục hồi từ những vấn đề về thận hơn người lớn.

- Ở giai đoạn đầu, chưa có triệu chứng gì, người bệnh vẫn làm việc, sinh hoạt bình thường, thậm chí không biết mình bị phù. Khi bệnh nặng, hiện tượng phù rất rõ như phù mặt, dưới da quanh mắt cá trước xương chày, vùng cùng cụt, dưới da đầu và nặng hơn là dẫn đến suy cầu thận, hư thận.

Tăng áp suất mạch môn

- Một trong những chức năng quan trọng của gan là lọc máu. Tuy nhiên, khi virus viêm gan siêu vi B tấn công lá gan, tạo nên các mô xơ.

- Nếu những mô xơ mọc xung quanh tĩnh mạch gan sẽ khiến các mạch máu bị xiết lại làm tăng áp xuất mạch môn. Từ đó, sẽ gây ra hàng loạt biến chứng nguy hiểm khác như giãn tĩnh mạch thực quản, tích tụ dịch trong xoang phúc mạc và có thể gây tử vong.

5. Chẩn đoán

Xét nghiệm máu: Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu. Xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do:

Nhiễm siêu vi B mạn tính tiến triển: Siêu vi đang nhân đôi, đang tăng sinh, gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan.

Nhiễm trùng đã qua: Một số người hiện tại không có viêm gan, nhưng đã tiếp xúc với virut viêm gan B trong quá khứ, tạo ra đáp ứng miễn dịch và thải trừ hoàn toàn siêu vi B.

Người lành mang mầm bệnh: Ðó là những trường hợp không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể. Họ mang siêu vi B trong người và có thể truyền sang người khác, mặc dù bản thân họ không có biểu hiện bệnh.

Khám chuyên khoa gan: Nếu xét nghiệm máu HBsAg dương tính, Bác Sỹ sẽ xác định liệu có tình trạng viêm gan đang tiến triển hay không. Nếu có, cần làm thêm: Xét nghiệm đánh giá chức năng gan.

Siêu âm gan: Phân tích cấu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dấu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác.  Nên làm thêm xét nghiệm sinh thiết gan, đồng thời tìm HBV DNA trong máu.

6. Cơ chế lây nhiễm

Đây là một bệnh lây nhiễm rất cao, được lan truyền qua tiếp xúc với máu hoặc các sản phẩm của máu, hoặc qua tiếp xúc thân thể thân mật như quan hệ tình dục (dị tính và đồng tính), lây từ mẹ sang con.

  Các trường hợp có tiếp xúc trực tiếp giữa người bị bệnh và người lành như: châm cứu, xăm mình, lấy ráy tai, xỏ lỗ tai, dao cạo râu, làm móng tay chân bằng các dụng cụ dùng chung không được khử khuẩn đều có thể lây nhiễm HBV và gây bệnh..

Virus viêm gan B không lan truyền qua thức ăn, nước hoặc qua tiếp xúc xã giao thông thường.

Các xét nghiệm máu cho kết quả Âm tính, máu sẽ được đưa vào sản xuất  thành các sản phẩm máu gồm:

           - Khối Hồng cầu

           - Khối Tiểu cầu

           - Khối Huyết tương

           - Khối Bạch cầu

           Việc sản xuất, sàng lọc các chế phẩm máu sẽ giúp cho việc truyền máu an toàn hơn, tránh tình trạng truyền máu không cần thiết, đảm bảo tiêu chí “ người bệnh thiếu gì truyền nấy”.

7. Điều trị

Về phương pháp điều trị: Tùy theo quyết định của BS dựa trên kết quả chẩn đoán, một số trường hợp cần điều trị sớm và tích cực. Mục đích điều trị nhằm:

Loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan.

Ðào thải một phần lượng nhỏ siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan.

Các thuốc điều trị đặc hiệu sẽ do BS kê đơn cho bạn tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.

8. Chế độ ăn

           Cũng như các loại bệnh do virut khác, cho đến nay y học vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu viêm gan do virut. Virut tồn tại trong người bệnh nhân suốt đời. Đây là nguồn lây bệnh chính cho gia đình và cộng đồng, nếu chúng ta không biết cách chăm sóc và giữ gìn, kiêng khem kỹ càng.

Nên ăn các loại thực phẩm giàu đạm (thịt cá, sữa...), đường và vitamin như hoa quả tươi, sữa chua...khi ăn trứng, bệnh nhân viêm gan không nên ăn phần lòng đỏ.

Giảm tối thiểu các thức ăn có mỡ, kể cả các món xào, rán.

Kiêng tuyệt đối các chất kích thích.

Khi ốm cần phải sử dụng thuốc phải hỏi ý kiến thầy thuốc để bảo đảm rằng loại thuốc đó không gây độc cho gan.

Phải giữ gìn vệ sinh thực phẩm để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Vì gan là cơ quan có chức năng chính là xử lý và đào thải chất độc cho cơ thể, nên khi bị ngộ độc thực phẩm, gan sẽ phải làm việc nhiều hơn, có thể đẩy nhanh thêm quá trình tổn thương ở gan.

9. Phòng bệnh

Ngăn chặn tất cả những con đường làm lây lan bệnh,ví dụ: tình dục an toàn. Không sử dụng chung kim tiêm, ống tiêm hoặc bất cứ thiết bị nào để tiêm chích. Nếu bạn quyết định có một hình xăm hoặc xỏ lỗ cơ thể, hãy chắc chắn rằng người đang làm cho bạn phải làm rất cẩn thận với tất cả các thiết bị đều được tiệt trùng sạch sẽ.....

Tiêm phòng vắc xin viêm gan B là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, nên xét nghiệm máu trước khi tiêm ngừa. Trẻ sơ sinh phải được tiêm chủng viêm gan B càng sớm càng tốt mà không cần xét nghiệm. Nhưng với thanh thiếu niên và người lớn cần xét nghiệm máu xem đã bị nhiễm bệnh viêm gan hay chưa.

Hãy tìm hiểu và chia sẻ những thông tin về bệnh nhằm ngăn chặn sự lây lan cho tất cả mọi người.

10. Câu hỏi liên quan

Câu 1: Phụ nữ mang thai bị nhiễm viêm gan B, làm gì để tránh lây bệnh cho con?

            Người mẹ bị viêm gan B nếu không muốn lây sang con thì phải điều trị bệnh ổn định trước khi mang thai và tiêm phòng cho trẻ ngay sau sinh.

            Nếu mẹ bị viêm gan siêu vi B thì trẻ sơ sinh được tiêm huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B ngay trong phòng sinh. Và tiêm vaccin phòng viêm gan B cho trẻ theo đúng lịch tiêm chủng.

Câu 2: Bị viêm gan có nên uống thuốc tránh thai không ?

Tất cả các thuốc ngừa thai bằng nội tiết đều chuyển hóa qua gan và nên tránh dùng trong những trường hợp chức năng gan bị suy giảm do bệnh lý gan cấp tính hay mãn tính. Trường hợp bị viêm gan B và có men gan tăng cao thì phải cần thận trọng hơn khi chọn lựa phương pháp ngừa thai. Có thể sử dụng phương pháp đặt vòng tránh thai hoặc bao cao su. Trong trường hợp có viêm gan mãn và chức năng gan thật sự ổn định trong một thời gian thì vẫn có thể sử dụng phương pháp ngừa thai bằng thuốc nội tiết (bao gồm thuốc uống, thuốc chích, que cấy).

Câu 3: Sau khi chích ngừa viêm gan siêu vi B, quan hệ tình dục có bị lây truyền không?

Chồng bị nhiễm, vợchích ngừa viêm gan siêu vi B đủ 3 muỗi thì nên để sau 1- 3 tháng mới quan hệ không dùng bao, vì kháng sinh chỉ có tácdụng cao sau 1 - 3 tháng lúc đó quan hệ thì vợ sẽ không bị nhiễm (trước khi qua hệ nên đi xét nghiệm lại để xác tính nồng độ HBsAg cócao không).

Câu 4: Khi người mẹ bị viêm gan siêu vi b có cho trẻ bú được không?

Các nhà nghiên cứu giải thích hầu hết những trẻ này bị nhiễm virus trong thời gian mang thai hoặc khi sinh. Virus viêm gan B có thể truyền từ mẹ sang con dễ dàng nhất qua đường máu.

Do vậy các bà mẹ cần tránh cho con bú nếu họ bị nứt vú, chảy máu núm vú hoặc tổn thương ở vú.

Các tác giả nghiên cứu kết luận còn chưa biết chính xác liệu cho con bú có làm lây nhiễm virus viêm gan B không và cần có thêm các nghiên cứu để xác nhận.

Câu 5: Đi xét nghiệm BS ghi Gan echo không đều nghĩa là sao?

Echo là độ phản âm trong siêu âm, vì vậy echo không nguy hiểm, mà có khối echo kém trong nhu mô gan là có tổn thương trong gan rồi, "khối echo kém có phân bổ nhiều mạch máu " nên nghĩ nhiều đến ung thư gan (HCC= hepatocellular carcinoma).

Câu 6: Viêm gan B được đưa vào tiêm chủng mở rộng từ năm nào?

Từ năm 1995, việc phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng.

Câu 7: Nếu tiêm thừa một mũi viêm gan B có sao không?     

Con bạn bị thừa một mũi viêm gan B. Tuy nhiên, vacxin viên gan B có thành phần cơ bản là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (là thành phần vỏ bên ngoài của virus) chứ không phải tiêm virus đã bị giảm độc lực vào cơ thể. Vì vậy, tiêm vacxin chỉ gây ra đáp ứng miễn dịch chứ không thể làm người tiêm bị nhiễm virus. Bạn không phải quá lo lắng nếu như con bạn tiêm thừa một mũi phòng viêm gan B. Do vậy, bạn không nhất thiết phải cho con tiêm phòng dịch vụ.

Câu 8: Khi bà mẹ bị viêm gan B sinh con nhưng lại không tiêm ngày huyết thanh VGB cho con trong 24  đầu. Như vậy trẻ có bị ảnh hưởng gì không? Và các mũi tiêm phòng của mẹ nếu tiêm mà trẻ đang bú mẹ thì các mũi tiêm đó có tiết qua đường sữa của mẹ hay không?

        Nếu trong trường hợp trẻ không tiêm phòng vacxin ngay sau sinh mà bú mẹ, thì nguy cơ mắc bệnh từ mẹ rất cao. Cần cho trẻ quay lại  bệnh viện để lấy máu xét nghiệm xem có nhiễm vi rút VGB từ mẹ sang hay không?

Các mũi tiêm của mẹ không ảnh hưởng gì khi trẻ bú mẹ vì  tỉ lệ nhiễm qua đường sữa tiết ra rất ít.(BS Bệnh viện Trí Đức)

Câu 9: Tôi bị viêm gan siêu vi B. Xin giúp tôi giải thích những điều cơ bản trong việc xét nghiệm gan với số liệu: Siêu âm gan: gan không to, bờ đều, cấu trúc thô không đồng dạng, có nhiều nốt echo dày #5-6mm. (echo là gì?) tĩnh mạch cửa dòng chảy hướng gan, vân tốc V= 11cm/s.

           Echo có nghĩa là tiếng vang, tiếng dội lại, lập lại của 1 âm thanh , cụ thể như khi chúng ta nói lớn hay la lên trong 1 căn phòng lớn, trống rổng, âm thanh của chúng ta sẽ bị dội lại từ những bức tuờng. Siêu âm là kỷ thuật dùng những làn sóng có tần số cao phóng vào các cơ quan trong ngườì như gan v..v . Khi đụng những mô bất thường thì các sóng này sẽ dội lại thành những hình ảnh hiện trên màn ảnh của máy siêu âm và các bác sĩ siêu âm sẽ đọc những biểu hiện nầy và giải thích kết quả.

           Bạn đã được làm siêu âm đặc biệt gọi là fibroscan đo độ cứng của gan. Theo các kết quả thì gan của bạn bị viêm mãn tính, có độ hoá sợi nhẹ, chưa có chai gan.

           Bạn nên hỏi thẳng bác sĩ điều trị cho bạn và cho bạn làm siêu âm. Bác sĩ có bổn phận phải giải thích cho bạn rõ. Bạn không phải sợ gì cả.

           Lưu ý không nên uống rượu, kể cả bia, không hút thuốc, không dùng các chất kích thích và hoá chất có hại cho gan. Nên ăn uống bổ dưỡng nhiều chất đạm, ít chất béo,dầu mỡ. Nên ăn nhiều rau quả, trái cây. Tập thể dục hằng ngày, tập thư giãn.

Câu 10: Virus viêm gan B có thể sống bao lâu bên ngoài môi trường  cơ thể?

           Mặc dù có kích thước cực nhỏ, virus viêm gan B có một lớp vỏ rất chắc chắn để bảo vệ nên có thể sống trong thiên nhiên rất lâu mà không bị thay đổi. Virus viêm gan B có thể sống trong vòng 7 ngày ở bên ngoài cơ thể con người. Môi trường lạnh đến âm 200C kéo dài 15 năm không gâytác hại cho HBV. Nếu nhiệt độ xuống đến âm 800C, HBV có thể chịu đựng được 2 năm. Với điều kiện nhiệt độ bình thường trong phòng, HBV có thể sống được 6 tháng, và nếu như bị làm khô trong vòng từ 3 đến 4 tuần, HBV vẫn giữ nguyên được khả năng tàn phá tế bào gan khi xâm nhập vào cơ thể.

           Virus viêm gan B tập trung chủ yếu trong máu người bệnh. Trong các mô và dịch tiết của cơ thể cũng có virus, nhưng ít hơn.

           Virus viêm gan B sẽ bị tiêu diệt nếu đun sôi ở 1000C trong vòng từ 1 đến 5 phút. Một số hoá chất có khả năng diệt virus này là glutaraldehyd, chloroform hoặc formalin. Các biện pháp như tia cực tím (ultraviolet radiation), ether hoặc cồn không đủ mạnh để diệt được HBV.

           Virus viêm gan B lây lan chủ yếu qua đường máu, các loại kim tiêm không tiệt trùng và hoạt động tình dục. Tuy nhiên, mọi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc dùng chung các vật dụng, dụng cụ... cũng đều có khả năng lây lan bệnh, nhất là khi có các vết trầy xước ngoài da.

Câu 11: Thiếu ngủ có gây nguy hiểm cho người bị viêm gan B?

- Thiếu ngủ và mất ngủ là một trong những triệu chứng cho thấy cơ thể người đã có virus viêm gan B tấn công. Một số bệnh nhân viêm gan B do thiếu ngủ, thức khuya vào ban đêm cùng với thói quen ăn đêm, nhất là ăn các đồ ăn nhanh, điều đó lại càng làm cho bệnh viêm gan B trở nên trầm trọng và quá trình điều trị gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, đối với bệnh nhân viêm gan B, việc nghỉ ngơi và ngủ đủ giấc giữ vai trò rất quan trọng giúp cho bệnh tình nhanh chóng thuyên giảm.

- Người bệnh mắc bệnh viêm gan B nếu như mắc chứng mất ngủ và thiếu ngủ thì càng khiến cho cơ thể mắc phải suy nhược, gầy ốm, sút cân, bệnh có tiến triển xấu hơn, phức tạp hơn gây ra nhiều khó khăn cho việc điều trị bệnh. Do đó, mỗi người bệnh cần được ngủ đủ giấc, ngủ sâu để đảm bảo việc khống chế bệnh viêm gan B và tránh ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.