1.  Con Đường lây bệnh :

-   Các giọt nước bọt trong không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho, nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong thời gian này có thể truyền vi rút sang thai nhi.

-   Vi rút có thể lây truyền trước và sau phát ban 7 ngày.

-   Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có thể lây truyền vi rút trong khoảng thời gian một năm hoặc hơn.

    2. Triệu chứng  :

-   Sau khi virut vào cơ thể độ 2-3 tuần lễ, bệnh nhân hoàn toàn bình thường tiếp theo có 3 triệu chứng chính là: sốt, phát ban và nổi hạch.

+  Sốt: Đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC.

+  Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại sau vài ngày khi ban bay hết.

+  Phát ban: Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết.

-   Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, không để lại di chứng.

-   Xét nghiệm dương tính thì cần phải kết luận một cách thận trọng Sự xuất hiện của kháng thể này kèm theo phát ban đặc trưng thì có thể chẩn đoán khẳng định

    3. Biến chứng:

-   Thường ít xuất hiện ở trẻ con mà chủ yếu ở người lớn.

-   Đau và sưng ở các khớp như ngón tay, cổ tay hay đầu gối, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai.

-   Phụ nữ mắc bệnh khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài...

-   Trẻ mắc bệnh thường có biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

-   Các biến chứng khác có thể là: tổn thương thai nhi (nhiều khuyết tật) với 9/10 trường hợp có thai (trong 8 - 10 tuần đầu). Tổn thương thai nhi 1/5 đến 1/10 (từ 10-16 tuần). Sau 16 tuần, tổn thương thai nhi hiếm gặp. Các rối loạn máu 1/3.000. Viêm não 1/5.000

    4. Điều trị:

Hiện chưa có thuốc điều trị. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghĩ nghơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin ddeeer tăng khả năng chống đỡ cơ thể.

    5. Ngăn ngừa bệnh (Dự phòng):

  Hai biện pháp chính của phòng bệnh là cách ly và tiêm phòng bằng vaccine

-   Tiêm phòng vaccin Rubella giảm độc lực, được ứng dụng từ năm 1969 tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm, hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ, khi tiêm phòng, phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi tiêm chủng và 2 tháng sau khi tiêm chủng.

-   Việc cách ly là rất khó, phải cách ly 8-10 ngày sau khi ban bay hết. Nhưng có ý kiến nên để cho trẻ mắc bệnh, vì Rubella là bệnh lành tính và sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch bền vững.

* Lưu ý : Người lớn nào lúc nhỏ chưa bị thì có thể bị lây bệnh nhưng thường chỉ bị nhẹ thôi, tuy nhiên họ vẫn có thể lây bệnh cho người khác. Vắc xin rubella an toàn hiệu quả, khi được dùng cho trẻ em thường phối hợp với vắc xin sởi và quai bị.

    6. Các câu hỏi liên quan:

         6.1   Những ai dễ bị lây bệnh?

     Những trẻ từ 6 tới 12 tháng dễ bị lây bệnh nhất vì vào tuổi này, kháng thể của người mẹ truyền cho chúng từ trong bào thai đã hết mà kháng thể mới thì chưa thành lập

        6.2   Làm cách nào để biết trẻ bị mắc bệnh rubella?

     Bởi vì những nốt ban của rubella trong tương tự các loại bệnh khác, cách chắc chắn duy nhất để xác định rubella là thực hiện các xét nghiệm.

        6.3   Khi nào cần đưa trẻ đi khám?

     Rubella thường là bệnh nhẹ, nhất là ở trẻ em và ít cần sự chăm sóc đặt biệt tại nhà. Theo dõi nhiệt độ của trẻ, và đưa trẻ đi khám bác sĩ nếu sốt quá cao. Để làm giảm khó chịu, bạn có thể cho trẻ acetaminophen hoặc ibuprofen. Tránh dùng aspirin cho trẻ bị bệnh do virus vì sử dụng aspirin ở những trường hợp này có thể gây ra hội chứng Reye, dẫn đến suy gan và tử vong.

    Đưa trẻ đi khám nếu trẻ bị sốt 38,9oC trở lên (trẻ dưới 6 tháng cần đi khám nếu nhiệt độ từ 38oC trở lên), hoặc nếu trẻ có vẻ bị ốm nặng hơn những triệu chứng nhẹ được mô tả ở trên.

      6.4   Bệnh có khả năng tái phát lần thứ hai?

    Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua

     6.5 Tự săn sóc khi  bị bệnh như thế nào ?

    Thường thì chúng ta không cần làm gì cả, chỉ chờ cho hết bệnh. Tuy nhiên, sốt cao có thể làm cho em bé khó chịu, cha mẹ có thể cho em uống thuốc acetaminophen (Tylenol) hay ibuprofen (Advil, Motrin..) để giảm bớt sốt. Không nên cho em uống aspirin vì có thể làm em dễ bị chứng Reye’s syndrome là một bệnh nặng. Nên cho em bé uống nhiều nước, nằm nghỉ