1. Khái niệm:

Chứng viêm loét miệng hay còn gọi là áp-tơ miệng là một chứng hay gặp cả ở người lớn và trẻ em. Chứng này thường làm cho việc ăn, uống, đánh răng trở nên đau, khó chịu.

Những vết loét miệng có thể gặp ở mặt trong của má, ở phần trong của môi, họng, vòm miệng và đôi khi ở lưỡi.

Cần phân biệt áp-tơ miệng với bệnh Herpex mà trong đó thường có những mụn nước nổi lên ở môi. Áp-tơ miệng là một bệnh không lây nhưng người ta thấy có những đợt chúng có thể xảy ra mang tính chất gia đình.

2. Nguyên nhân:

Hiện nay vẫn chưa rõ nguyên nhân của chứng áp-tơ. Người ta nghĩ rằng có một số yếu tố liên quan đến bệnh như: thiếu acid folic, thiếu sắt, thiếu vitamin B12, cơ địa dị ứng, bị những bệnh liên quan đến miễn dịch, hoặc một số bệnh đường tiêu hóa.

Các yếu tố về thần kinh dường như cũng đóng vai trò liên quan. Một nghiên cứu ở sinh viên đại học cho thấy rằng trong những giai đoạn căng thẳng như trong giai đoạn thi cử sinh viên thường bị áp-tơ miệng nhiều hơn trong các giai đoạn nghỉ ngơi.

Một số loại thức ăn như các loại trái cây chứa acid như chanh, cam, dứa, dâu, cà chua, vả,… có thể làm khởi phát hoặc trầm trọng thêm áp-tơ

Người trẻ hay bị áp-tơ miệng hơn người lớn tuổi. Nữ thường bị nhiều gấp hai lần so với nam

3. Các dấu chứng và triệu chứng:       

Áp-tơ thường xuất hiện ở dạng những chấm hoặc vết loét màu đỏ có thể nhỏ từ vài milimét đường kính nhưng cũng có khi lan rộng đến 20 – 25 mm. Đôi khi lúc đầu chỗ bị áp-tơ xuất hiện dưới dạng một mụn nước nhỏ có cảm giác ngứa, rát rồi vỡ ra sau 1-2 ngày, tạo ra một vết loét màu trắng hoặc vàng nhạt ở giữa với một viền đỏ sáng vòng quanh chỗ loét. Thường các vết loét xuất hiện một mình, nhưng cũng đôi khi chúng xuất hiện thành từng chùm 2-3 vết loét cùng một chỗ.      

Ít khi chứng áp-tơ miệng có kèm theo sốt, sưng hạch, hoặc cảm giác ốm, mệt mỏi.

Về lâm sàng có thể chia làm 2 loại áp-tơ như sau:     

Áp-tơ đơn độc: Là thể bệnh hay gặp nhất (80%). Tổn thương là một vết loét có đường kính 3-10 mm thường là hình tròn, gây đau nhức tại chỗ, cảm giác bị bỏng, căng và nặng thêm khi cọ xát, tiếp xúc với thức ăn, gây trở ngại khi nhai, nói. Mỗi đợt áp-tơ đều tiến triển qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn báo bệnh: 24 giờ trước, bệnh nhân có cảm giác nóng rát ở vùng niêm mạc sẽ bị loét.

Giai đoạn trước loét: Từ 18 giờ đến 3 ngày xuất hiện một vết ban nhỏ có màu đỏ hoặc xuất hiện một nốt sần ở giữa màu vàng, có quầng đỏ bao quanh. Tổn thương này có thể tự khỏi sau 2-3 ngày.

Giai đoạn loét: Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 6. Tổn thương lúc này rộng ra, màng hoại tử tróc ra để lại một vết loét hình tròn có đường kính 2-10 mm đáy trũng, bờ rõ rệt, có viền đỏ bao quanh và tiết dịch nhầy ở giữa.

Giai đoạn lành bệnh: Đau giảm dần sau 5-7 ngày. Viêm và quầng đỏ biến dần. Đáy vết loét trở lại màu hồng, biểu mô mọc trở lại, vết loét lành không để lại sẹo.

Áp-tơ trầm trọng: Khoảng 10% người bệnh ở dạng này có những vết loét tái phát xa hoặc rất gần nhau làm đau dữ dội, tăng tiết nước bọt, khó nuốt, miệng hôi, bệnh nhân khó ăn, khó ngủ và lo lắng... Đôi khi có bội nhiễm gây sốt, nổi hạch, thiếu máu nhẹ và giảm bạch cầu. Bệnh kéo dài khoảng 10-30 ngày và khi lành sẽ để lại sẹo.

Thường mất khoảng 10 – 14 ngày để những vết loét áp-tơ lành. Trong khoảng thời gian này vết loét gây đau nhiều nhất là thời gian 3 – 4 ngày đầu.

4. Điều trị và chăm sóc:

Do chưa biết rõ cơ chế gây bệnh nên việc điều trị chủ yếu là chữa triệu chứng, làm giảm độ tái phát của bệnh.

Triệu chứng đau trong áp-tơ thường sẽ tự khỏi sau vài ngày. Nếu đau nhiều thì có thể dùng các dung dịch sát khuẩn nhẹ súc miệng (nước có menthol, eucalyptol,..) hoặc có thể dùng các loại mỡ corticoid bôi dùng trong miệng. Lưu ý sau khi súc miệng hoặc bôi thuốc thì không ăn uống trong vòng 30 – 60 phút để thuốc có thời gian thấm vào và có tác dụng.

Cần lưu ý chỉ dùng nước súc miệng cho trẻ lớn đã biết súc miệng, tránh dùng cho trẻ nhỏ vì chúng có thể nuốt dung dịch súc miệng.

Cũng có thể dùng mỡ Carbamide Peroxide (mỡ phối hợp giữa peroxide và glycerin) bôi vết loét để che phủ và làm giảm đau vết thương.

Khi đã bị áp-tơ cần tránh ăn các loại thức ăn gây cọ xát vào vùng miệng như khoai tây chiên, đậu rang, bắp rang …, tránh các loại thức ăn chua làm tăng triệu chứng đau.

5. Phòng áp-tơ

Mặt dù chưa rõ nguyên nhân và chưa có cách điều trị đặc hiệu đối với áp-tơ, một số biện pháp sau đây có thể hữu ích trong việc giảm sự tái phát của áp-tơ:

- Tránh dùng những thực phẩm quá chua hoặc quá cay.

- Tránh dùng nhiều kẹo cao su, đặc biệt ở những người đã có cơ địa dễ bị áp-tơ.

- Đánh răng sau bữa ăn, giữ vệ sinh răng miệng.

6. Lưu ý:

Cần đưa trẻ đi khám nếu có những dấu hiệu sau:

- Vết loét quá lớn (>20 mm)

- Quá nhiều vết loét

- Vết loét không lành sau 3 tuần

- Trẻ đau quá không ăn uống được

- Trẻ bị sốt cao hoặc có các triệu chứng bất thường khác như co giật, tiêu chảy, nôn,…