1. Khái niệm

-        Thông thường, theo chu kỳ kinh nguyệt, phần tăng trưởng này sẽ phát triển ngày càng dày lên, tích tụ nhiều chất dinh dưỡng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để trứng thụ tinh sẽ đến làm tổ khi có thai; gần hết chu kỳ kinh, do thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ, lớp tăng trưởng này sẽ bong ra và tạo ra hiện tượng hành kinh; sau đó phần này lại tiếp tục tăng trưởng vào chu kỳ kinh sau và cứ thế tiếp tục cho đến tuổi mãn kinh.

-        Sự phát triển của nội mạc tử cung chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục nữ: giai đoạn trước rụng trứng là vai trò của estrogen và giai đoạn sau rụng trứng là vai trò của estrogen và progesterone.

 

2. Bệnh lý nội mạc

Bệnh lý có thể gặp ở nội mạc tử cung là tăng sinh nội mạc tử cung và ung thư nội mạc tử cung.

a.Tăng sinh nội mạc

Định nghĩa

Tăng sinh nội mạc tử cung là tình trạng tăng sinh bất thường phần nội mạc, bao gồm các phần tuyến và gây thay đổi tỷ lệ tuyến/mô đệm; thường có các dạng :

-        Tăng sinh đơn giản: gia tăng số lượng tuyến, nhưng cấu trúc tuyến còn bình thường.

-        Tăng sinh phức tạp: gia tăng số lượng tuyến và thay đổi cấu trúc.

-        Tăng sinh điển hình hay không điển hình khi có hay không có bất thường về mặt tế bào học.

Các dạng tăng sinh phức tạp và không điển hình có nhiều nguy cơ tiến triển thành ung thư nội mạc. 10-30% các dạng tăng sinh không điển hình có thể tiến triển thành ung thư nội mạc tử cung.

Nguyên nhân

-        Bất thường được giải thích do nội mạc tử cung bị kích thích liên tục với estrogen và thiếu vắng vai trò đối kháng của progesterone.

-        Tình trạng này có thể gặp trên những người có có chu kỳ kinh không rụng trứng (như hội chứng buồng trứng đa nang , hay vào giai đọan tiền mãn kinh), những người sử dụng estrogen liên tục không kèm với progesterone.

Triệu chứng

-       Triệu chứng của tăng sinh nội mạc thường là kinh nguyệt rối loạn với dạng chu kỳ kinh không đều, hành kinh rất nhiều, đôi khi dẫn đến băng kinh hay thiếu máu.

-       Khám lâm sàng thường không phát hiện bất thường ngoại trừ tình trạng thiếu máu nếu có, siêu âm thường chỉ gặp tình trạng nội mạc dày hơn bình thường.

Điều trị

-       Điều trị gồm sử dụng progestin dài hạn hay phẫu thuật cắt tử cung.

-       Sử dụng thuốc ngừa thai lọai uống, kết hợp (có estrogen và progestin) là yếu tố làm giảm nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung.

b. Ung thư nội mạc tử cung

Định nghĩa

Ung thư nội mạc tử cung hay còn gọi là ung thư tử cung, ung thư thân tử cung, là một trong 4 bệnh ung thư thường gặp ở phụ nữ. Bệnh thường xảy ra ở độ tuổi trung niên, quanh giai đọan tiền mạn kinh – mãn kinh (khỏang ¼ trường hợp xảy ra trước mãn kinh).

Nguyên nhân

-        Một số người có nhiều nguy cơ ung thư tử cung như người béo phì (nguy cơ gấp từ 3 lần trở lên),

-        Độc thân hay sinh ít con (người chưa sanh có nguy cơ gấp đôi người sanh 1 con, và gấp 3 lần so với người có từ 5 con trở lên),

-        Có chu kỳ kinh không phóng noãn, hành kinh sớm, mãn kinh muộn (mãn kinh muộn hơn 52 tuổi có nguy cơ gấp 2 lần)…

-        Sử dụng thuốc ngừa thai dạng uống, theo nhiều nghiên cứu cho thấy có khả năng giảm nguy cơ ung thư tử cung; tác động bảo vệ này còn kéo dài sau khi đã ngưng thuốc nhiều năm.

Triệu chứng   

-        Biểu hiện thường nhất là tình trạng xuất huyết tử cung bất thường (90% bệnh nhân). Triệu chứng này có thể làm nhầm lẫn với nhiều tình trạng bệnh lý: rối lọan kinh nguyệt, rối lọan thời tiền mãn kinh, xuất huyết tử cung do thiếu hụt estrogen lâu ngày trên người mãn kinh, xuất huyết tử cung do sử dụng nội tiết tố sinh dục không đúng cách.

-        Việc sinh thiết mẫu nội mạc tử cung thông qua việc nạo lòng tử cung hay sinh thiết qua nội soi lòng tử cung sẽ giúp chẩn đóan rõ ràng nguyên nhân xuất huyết tử cung; và vì bệnh thường xảy ra quanh tuổi mãn kinh, việc nạo sinh thiết lòng tử cung gần như được đặt ra thường qui khi có xuất huyết tử cung bất thường ở độ tuổi này.

-        Ngoài ra, việc khám lâm sàng thường ít phát hiện bất thường, có thể gặp tử cung có kích thước bình thường hay hơi lớn hơn, di động hạn chế khi bệnh tiến triển xa; siêu âm sẽ thấy một số bất thường như tình trạng tăng sinh nội mạc tử cung, khối bất thường lòng tử cung.

Điều Trị

-        Điều trị bệnh bao gồm phẫu thuật cắt bỏ tử cung có kèm hay không các điều trị hỗ trợ sau đó (hóa trị, xạ trị hay điều trị nội tiết), tùy theo giai đoạn bệnh.

-        Tiên lượng bệnh tùy thuộc vào giai đoạn phát hiện bệnh, mức độ xâm lấn của khối ung thư so với thành tử cung, mức độ di căn trong ổ bụng và nhất là loại tế bào của ung thư.

-        Việc sàng lọc bệnh không được đặt ra; do đó tốt nhất là hãy đến khám phụ khoa ngay khi có xuất huyết tử cung bất thường, nhất là giai đoạn tiền mãn kinh – mãn kinh.

Kết luận: việc khám phụ khoa định kỳ sẽ giúp phát hiện sớm các bệnh lý hay nguy cơ bệnh lý phụ khoa. Không chủ quan với bất kỳ cá thay đổi nào về tình trạng bộ phận sinh dục hay tình trạng kinh nguyệt và đi đến người có chuyên khoa để tìm lý giải cho các bất thường xảy ra sẽ giúp chị em phụ nữ phát hiện sớm bệnh lý phụ khoa, đặc biệt là bệnh lý về nội mạc tử cung.

3. Hỏi _ đáp:

Hỏi: Dày nội mạc tử cung có ảnh hưởng đến việc có con?

               Em 25 tuổi, chưa có gia đình, vào ngày thứ 3 của chu kì kinh siêu am kết quả là nội mạc tử cung dày 7mm, bác sĩ kết luận là dày nội mạc tử cung, cho đơn thuốc gồm: ceftacef 200mg, vitamin E, Chymotrypsin. Tìm hiểu trên mạng em được biết Ceftacef là kháng sinh. - Vậy cho em hỏi nội mạc như vậy có dày quá không và có ảnh hưởng đến việc có em bé sau này không ạ. Và việc dùng kháng sinh như vậy có ảnh hưởng gì không, vì em không thấy trong kết luận của bác sĩ là bị viêm nhiễm gì cả. Nhờ bác sĩ xem và tư vấn giúp em.

Đáp: Bs. Trần Thị Thu Lan

               Chào em, nội mạc tử cung thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, vào đầu chu kỳ kinh ( ngày 3) đo được 7mm là dày.

               Trên siêu âm kích thước nội mạc tử cung bình thường tương ứng với chu kỳ kinh như sau:

                    - Giai đoạn đầu chu kỳ (ngày 1- 4): 2 - 4 mm

                    - Giai đoạn tăng sinh (ngày 4- 14): 6 - 10 mm

                    - Giai đoạn chế tiết (ngày 15-28): < 16 mm.
               Tuy nhiên khả năng thụ thai tùy thuộc rất nhiều nguyên nhân, trong đó dày nội mạc tử cung không phải là nguyên nhân chính. Có thể viêm nội mạc tử cung cũng là nguyên nhân gây dày nội mạc tử cung. Em cần đi khám lại sau khi sạch kinh 5 ngày của chu kỳ kinh sau để kiểm tra lại nội mạc tử cung để được bác sĩ chuyên môn thăm khám và điều trị nếu cần.