1. Khái niệm

-       Thời gian thai nghén bình thường trung bình là 9 tháng 10 ngày hay 285 ngày (10 ngày tính từ ngày đầu của kinh cuối cùng).

-       Thai nghén được gọi là già tháng khi tuổi thai theo lý thuyết vượt quá 42 tuần hoặc 294 ngày.

-       Khoảng 3- 12% thai nghén vượt quá tuần 42, nhưng thực tế thì tỷ lệ thai già tháng không vượt quá 4% (do không nhớ ngày kinh cuối cùng chính xác, hoặc thời gian phóng noãn chậm) .

2. Nguyên nhân

-       Nguyên nhân của thai già tháng vẫn chưa biết rõ. Tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ như: thai vô sọ, thiếu sulfatase nhau thai, sử dụng progesteron kéo dài, tiền sử sinh quá ngày.

-       Nguyên nhân thường gặp nhất là tính tuổi thai không chính xác.

3. Sinh lý bệnh học

Bánh nhau và nước ối đóng một vai trò quan trọng trong quá trình vận chuyển và chuyển hóa sinh học của thai nhi. Trong thai già tháng, lượng nước ối giảm dần, bánh nhau thoái hóa dần dẫn đến giảm dòng máu ở bánh nhau và  các chất dinh dưỡng đến thai. Do đó thai bị suy trường diễn trong tử cung và có thể chết trong tử cung hoặc chết trong khi chuyển dạ (do có cơn go tử cung). Vì vậy, thai già tháng là thai nghén bị đe dọa, thiếu ôxy là nguyên nhân chính của suy thai, khi thai đẻ ra sống thì có biểu hiện tổn thương đặc biệt như gầy, bị mất nước, da nhăn nheo nhuộm đầy phân su.

4. Chẩn đoán

-       Hỏi bệnh sử để định tuổi thai:                   

+       Kinh cuối cùng:  lấy mốc là ngày đầu của kinh cuối cùng để tính tuổi thai.

+       Thời gian thụ tinh: nếu có điều trị vô sinh, vì đây là mốc rất có giá trị để chẩn đoán tuổi thai.

+       Lần thăm khám sản khoa đầu tiên: nếu có làm phản ứng sinh học, hoặc siêu âm  để chẩn đoán thai sớm (trong quý đầu) thì rất có giá trị.

+       Thời gian xuất hiện thai máy: con so thường vào tuần thứ 18 tuần, con rạ tuần 16.

+       Giảm cử động thai xảy ra đột ngột ở những thai phụ có thai đạp nhiều, cần phải được xem xét nghiêm túc.

-       Đo bề cao tử cung giảm qua 2 lần thăm kế tiếp kèm với giảm lượng nước ối (có tính chất gợi ý).

5. Xét nghiệm

-       Siêu âm sớm (đặc biệt trong quý đầu) giúp chẩn đoán chính xác tuổi thai. Siêu âm muộn ít chính xác hơn nhưng nếu thấy lượng nước ối ít và bánh rau vôi hóa cũng gợi ý chẩn đoán.

-       Doppler: Phương pháp này cho phép khảo sát tình trạng huyết động học của thai và tuần hoàn rau thai để tiên lượng suy thai.

-       Monitor thai để tìm suy thai mãn (thử nghiệm không đả kích 2 lần/ tuần hoặc thử nghiệm đã kích).

-       Soi ối: tìm dấu hiệu suy thai mãn, có thể thấy ối màu vàng hoặc màu  xanh.

-       Chọc hút nước ối: chỉ cho khẳng định thai đã trưởng thành mà không cho phép chẩn đoán thai già tháng.

-       Chụp X quang để tìm  điểm hóa cốt:  điểm  Béclard (đầu dưới xương đùi). Điểm TOD  (đầu trên xương chày ). Tỷ lệ âm tính giả khá cao hiện nay ít được sử dụng

Hiện nay không có một tiêu chuẩn nào cho phép khẳng định chắc chắn thai già tháng, tuy nhiên tốt nhất có thể dựa vào:

-       Ngày kinh cuối cùng

-       Siêu âm.

-       Lượng nước ối: Nước ối ít.

-       Sau khi đã loại trừ các sai lầm lớn về tuổi thai, chỉ còn một khả năng là theo dõi chặt chẽ lúc cuối thời kỳ  thai nghén để phát hiện suy thai.

Dù sao đi nữa, mọi thai nghén vượt quá 42 tuần là phải có ý kiến của bác sĩ sản khoa theo dõi và đỡ đẻ.

6. Biến chứng

a. Nguy cơ cho mẹ:

-       Gia tăng khả năng mổ lấy thai và đẻ có can thiệp thủ thuật.

-       Chảy máu sau sinh.

-       Nằm viện dài ngày và có nhiều biến chứng.

b. Nguy  cơ cho thai:

-       Thiểu ối (thiểu năng rau thai).

-       Chèn ép dây rốn

-       Suy thai

-       Tử vong thai đột ngột.

-       Rối loạn trưởng thành thai (chiếm tỷ lệ 10- 20% thai quá ngày).

-       Hội chứng hít phân su: 25-30 % thai 42 tuần có phân su trong dịch ối.

-       Thai lớn: gây đẻ khó, tổn thương xương và gãy xương và để lại chứng thần kinh tại chỗ và lâu dài.

c. Chăm sóc em bé

Cần phải xem lại trẻ sơ sinh có bị bong da hay không, rau, ối như thế nào. Khi đã xác định là thai già tháng, cần phải thực hiện các biện pháp săn sóc đặc biệt, hút kỹ phân su đường hô hấp, tiêm Vitamin K1, kháng sinh dự  phòng...và theo dõi sự phát triển của trẻ.

Lưu ý: chẩn đoán thai già tháng dựa vào những dấu hiệu nghi ngờ. Do đó đòi hỏi người thầy thuốc phải theo dõi sát bệnh nhân và quyết định xử trí đúng lúc, tránh những can thiệp trên một thai chưa đủ tháng, nhưng cũng không để xảy ra tình trạng suy thai và tử vong thai trong bụng mẹ do rau già  cỗi và thoái hóa.

7. Cách phòng tránh thai nhi già tháng

Để tránh xảy ra tình trạng này, y học khuyến cáo các bà mẹ khi mang thai  phải có chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lí, thường xuyên vận động nhẹ nhàng bằng cách đi bộ, thể dục nhẹ nhàng... Ngoài ra, cần chú ý một số điểm như sau:

-       Phụ nữ chuẩn bị thụ thai nên ghi chép rõ ràng chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng của mình để làm cơ sở tin cậy cho việc dự tính ngày sinh.

-       Khi mang thai, các bà bầu nên tiến hành khám thai định kì. Nếu không nhớ rõ kì kinh cuối cùng, bác sĩ có thể căn cứ vào phản ứng của thai nhi và các kiểm tra sinh hoá để dự tính ngày sinh. Thông qua khám thai định kì còn có thể phát hiện các yếu tố dẫn đến thai nhi già tháng như: vị trí thai nhi không thuận, động sản dị thường, nước ối quá ít… để sớm lựa chọn các biện pháp sinh có hiệu quả.

-       Phụ nữ mang thai bắt đầu từ tháng thứ 6, hàng ngày nên dùng khăn mềm, xà phòng và nước ấm lau đầu vú. Một tháng trước khi sinh nên lau thường xuyên hơn và duy trì việc này cho đến khi sinh. Làm như vậy có thể khiến cho lớp biểu bì ở đầu vú dầy hơn, có độ đàn hồi, không bị nứt, viêm nhiễm khi trẻ bú. Đồng thời có thể kích thích đầu vú khiến tử cung co bóp, có lợi cho việc sinh sản đúng kì.

-       2 tuần trước khi chuyển dạ nên duy trì hoạt động thích hợp, mỗi ngày tốt nhất nên đi bộ 1 tiếng để đầu của thai nhi xoay xuống xương chậu.

8. Biện pháp xử lý khi thai quá ngày

Đối với những thai nhi quá hạn từ 1 tuần trở lên, bạn cần ở lại bệnh viện để được theo dõi về sức khỏe của thai nhi và mẹ bầu. Nếu có bất cứ dấu hiệu gì nghiệm trọng, rất có thể bạn sẽ phải mổ lấy thai ngay lập tức để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và bé.

Thai phụ sẽ được kích thích, tạo cơn co tử cung giống như chuyển dạ. Nếu thai nhi chịu đựng được, coi như thử nghiệm âm tính, thai phụ tiếp tục theo dõi chờ chuyển dạ và làm thử nghiệm này sau 24 – 48 giờ. Các thai phụ này vẫn có thể sinh theo đường tự nhiên.

Bên cạnh đó, trong thời gian này mẹ bầu nên tích cực ăn những loại thực phẩm có tác dụng kích thích sinh nở hoặc học cách thúc đẩy những cơn co thắt chuyển dạ. Dù vậy, trong bất cứ tình huống nào, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thực hiện để được an toàn nhất.

Thai quá dự kiến sinh chưa hẳn đã là thai già tháng. Không nên lo lắng thái quá để rồi gây áp lực buộc nhân viên y tế phải phẫu thuật lấy thai. Việc theo dõi thai quá dự kiến sinh dựa trên bởi lâm sàng và siêu âm. Khi có những nghi ngờ về lượng nước ối nên vào nội trú bệnh viện. Các thử nghiệm (test) nếu âm tính, tức không suy thai cứ tiếp tục chờ chuyển dạ, hoặc bình tĩnh nếu được gây chuyển dạ. Số trường hợp gây chuyển dạ, sinh nở an toàn là không nhỏ.