1 Khái niệm

Viêm tiểu khung (pelvic inflammatory disease – PID) là nhiễm trùng cơ quan sinh dục nữ - tử cung, ống dẫn trứng, cổ tử cung và buồng trứng.

2 Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm tiểu kkhung có thể gồm:

  • Đau bụng dưới và khung chậu

  • Khí hư nhiều có mùi khó chịu

  • Kinh nguyệt không đều

  • Đau khi giao hợp

  • Đau vùng thắt lưng

  • Sốt, mệt mỏi, ỉa chảy hoặc nôn

  • Tiểu tiện đau hoặc khó


PID có thể chỉ gây các dấu hiệu và triệu chứng nhẹ hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng nào. PID không có triệu chứng chiếm 2/3 số lần.

PID không triệu chứng đặc biệt hay gặp khi nhiễm chlamydia. Không có dấu hiệu và triệu chứng làm tăng khả năng bạn truyền chlamydia cho bạn tình và bị tổn thương năng hơn cơ quan sinh sản của bạn.

Các dấu hiệu và triệu chứng cấp cứu của PID bao gồm:

  • Đau dữ dội bụng dưới

  • Nôn

  • Các dấu hiệu của sốc, như ngất

  • Sốt, nhiệt độ >38,5oC

  •  

Nếu các dấu hiệu và triệu chứng này xuất hiện, phải tới ngay phòng cấp cứu

3 Nguyên nhân

Quan hệ tình dục không an toàn làm tăng khả năng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) như quan hệ tình dục không an toàn với hơn 1 bạn tình làm tăng nguy cơ bị PID. Vi khuẩn phổ biến nhất gây PID cũng gây bệnh lậu và chlamydia và nhiều phụ nữ nhiễm vi khuẩn này bị PID không triệu chứng.

Một số dạng tránh thai có thể tác động tới nguy cơ bị PID của bạn. Vòng tránh thai có thể làm tăng nguy cơ PID, nhưng các phương pháp rào cản khác như bao cao su hoặc màng ngăn âm đạo làm giảm nguy cơ này. Dùng thuốc tránh thai đơn thuần không có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh STD mắc phải. Nhưng thuốc viên tránh thai có tác dụng bảo vệ chống lại PID nhờ tạo ra nút nhầy cổ tử cung đặc hơn, làm cho vi khuẩn khó tới được đường sinh dục trên hơn.

Vi khuẩn cũng có thể đi vào đường sinh sản do đặt vòng, sinh con, sẩy thai, nạo thai hoặc sinh thiết nội mạc tử cung.

Các yếu tố nguy cơ

Nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ bị PID của bạn, bao gồm:

  • Là phụ nữ trẻ, có sinh hoạt tình dục (15-25 tuổi).

  • Có nhiều bạn tình

  • Dùng các biện pháp tránh thai không rào chắn. Phương pháp rào chắn bảo vệ khỏi PID.

  • Mới đặt vòng. Nguy cơ của bạn cao nhất trong 4 tháng đầu tiên sau khi đặt.

  • Thụt rửa thường xuyên, có thể đẩy vi khuẩn vào sâu trong đường sinh dục và che giấu các triệu chứng có thể khiến bạn đi điều trị sớm.


4 Khi nào cần đi khám

Hãy đến khám bác sĩ nếu bạn có các dấu hiệu và triệu chứng của PID, bao gồm:

  • Đau bụng dưới và khung chậu

  • Ra khí hư bất thường có mùi khó chịu

  • Kinh nguyệt không đều

  • Đau khi giao hợp

  • Đau vùng thắt lưng

  • Sốt, mệ mỏi, ỉa chảy hoặc nôn

  • Tiểu tiện đau hoặc khó


Loét hoặc đỏ bộ phận sinh dục, khí hư có mùi hôi, tiểu tiện đau, hoặc ra máu giữa chu kỳ kinh cũng có thể là dấu hiệu của bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD). Nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng này, hãy ngừng quan hệ tình dục và tới gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. Điều trị kịp thời STD có thể giúp ngăn ngừa PID.

5 Sàng lọc và chẩn đoán

Bác sĩ chẩn đoán PID dựa vào các dấu hiệu và triệu chứng, khám tiểu khung, và phân tích khí hư và nuôi cấy dịch cổ tử cung.

Trong khi khám tiểu khung, bác sĩ dùng một miếng gạc bông để lấy mẫu bệnh phẩm từ âm đạo và cổ tử cung. Các mẫu này được gửi tới phòng xét nghiệm để phân tích xác định những vi khuẩn nào là nguyên nhân gây nhiễm trùng.

Để xác nhận chẩn đoán hoặc để xác định mức đọ lan rộng của nhiễm trùng, bác sĩ có thể khuyên nội soi vùng tiểu khung. Trong thủ thuật này, bác sĩ luồn một dụng cụ mỏng, có đèn sáng qua một đường rạch nhỏ trên bụng bạn để quan sát các tạng trong tiểu khung.

6 Biến chứng

PID không được điều trị có thể gây mô sẹo và tích dịch nhiễm khuẩn (áp xe) ở ống dẫn trứng. Tổn thương này có thể gây đau tiểu khung mạn tính và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe sinh sản. Các biến chứng có thể gồm:

  • Chửa ngoài tử cung. PID là yếu tố nguy cơ chính gây chửa trong ống dẫn trứng (ngoài tử cung). Trong chửa ngoài tử cung, trứng được thụ tinh không thể qua ống dẫn trứng để làm tổ trong tử cung. Chửa ngoài tử cung có thể gây chảy máu nhiều, đe dọa đến tính mạng và cần phải mổ cấp cứu.

  • Vô sinh. PID là nguyên nhân gây vô sinh có thể phòng tránh được hay gặp nhất ở Mỹ. PID có thể làm tổn thương cơ quan sinh sản và gây vô sinh, không có thai sau 1 năm quan hệ tình dục không dùng biện pháp tránh thai.

  • Viêm phúc mạc. PID cũng có thể gây viêm phúc mạc. Viêm phúc mạc thường nặng và cần điều trị tích cực bằng kháng sinh.

  • Nhiễm độc máu. Ở một số ít trường hợp, nếu vi khuẩn xâm nhập vào máu, PID có thể gây nhiễm độc máu (nhiễm trùng máu), viêm và nhiễm trùng các khớp.

 

7 Điều trị

Kháng sinh là liệu pháp điều trị chuẩn đối với PID. Bác sĩ có thể kê đơn phối hợp kháng sinh trước khi nhận được kết quả xét nghiệm. Kháng sinh có thể được điều chỉnh khi có kết quả xét nghiệm. Bác sĩ cũng có thể kê đơn thuốc giảm đau và khuyên nghỉ ngơi tại giường.

Để phòng tránh tái nhiễm PID, hãy khuyên bạn tình của bạn đi khám và điều trị. Tránh quan hệ tình dục cho tới khi điều trị hoàn tất và các xét nghiệm cho thấy đã hết nhiễm trùng ở tất cả các bạn tình.

Điều trị ngoại trú là đủ để điều trị PID ở phần lớn phụ nữ. Tuy nhiên, nếu bạn bị bệnh nặng, đang mang thai hoặc có HIV (+) hoặc không đáp ứng với các thuốc đường uống, có thể bạn cần nhập viện. Tại bệnh viện, bạn có thể được dùng kháng sinh đường tĩnh mạch, tiếp theo là kháng sinh đường uống.

Ít khi cần phẫu thuật. Tuy nhiên, nếu áp xe vỡ hoặc dọa vỡ, bác sĩ có thể dẫn lưu ổ áp xe đó. Ngoài ra, phẫu thuật có thể được thực hiện ở những phụ nữ không đáp ứng với điều trị hoặc những người có chẩn đoán nghi ngờ, như khi không có 1 hoặc nhiều dấu hiệu và triệu chứng PID. Trong những trường hợp này, thường thử điều trị kháng sinh trước khi phẫu thuật, vì phẫu thuật có những nguy cơ.

8 Phòng tránh

Phần lớn các trường hợp PID có thể phòng tránh được bằng quan hệ tình dục an toàn. Sử dụng đúng bao cao su, chứ không loại bỏ được nguy cơ mắc STD. Ngoài việc dùng bao cao su nhất quán và cẩn thận, phòng tránh STD tốt nhất bằng cách quan hệ tình dục chung thủy một vợ một chồng hoặc không quan hệ tình dục.

Nếu bạn có hành vi tình dục nguy cơ cao, bạn nên sàng lọc STD thường xuyên. Bác sĩ có thể giúp bạn xác định lịch trình sàng lọc thích hợp.

Nếu bạn bị PID hoặc STD, hãy khuyên bạn tình đi kiểm tra và điều trị nếu cần. Việc này có thể phòng ngừa sự lây lan STD và tái phát PID.