1 Thai phụ và bệnh động kinh

Đối với thai phụ chẳng may bị động kinh thì nó càng trở thành một gánh nặng. Ở Anh, mỗi năm trung bình có khoảng 2.500 thai phụ bị bệnh này và nó thực sự ảnh hưởng lớn đến thai nhi và mẹ.

Dưới sự hỗ trợ của y học hiện đại, hơn 90% phụ nữ bị bệnh động kinh sẽ có một thai kỳ bình thường. Điểm này cần được nhấn mạnh khi tham vấn cho các bệnh nhân bị động kinh thai kỳ, nó sẽ giải tỏa nhiều nỗi sợ hãi và lo âu về những rủi ro mà rất có thể họ sẽ gặp phải. Tuy nhiên không phải tất cả thai phụ bị động kinh sẽ vượt qua nó dễ dàng, sẽ có khá nhiều trường hợp đáng tiếc mà bạn cần nắm rõ để đề phòng và loại trừ bệnh động kinh ra khỏi hơn 9 tháng “bầu bí”.

2 Nguyên nhân bệnh động kinh ở thai phụ

Phụ nữ bị bệnh động kinh nên biết rằng một số loại thuốc tân dược có thể ảnh hưởng đến chứng bệnh mà họ gặp phải, rất có thể đó là hậu quả của thuốc ngừa thai. Do đó, tốt nhất hãy tham khảo các biện pháp tránh thai từ bác sĩ thay vì tùy tiện sử dụng.

Một số thành phần thuốc có thể khiến thai phụ bị động kinh mà các chuyên gia tìm thấy được là: valproate, trimethadione và phenytoin chúng làm tăng nguy cơ tạo ra các khuyết tật bẩm sinh như sứt môi, có vấn đề về tim, hoặc ngón tay và ngón chân bị dị dạng, tật nguyền ở thai nhi.

Một nguyên nhân khác là thai phụ do ốm nghén, thiếu ngủ, stress trong thời kỳ mang thai, chứng động kinh có liên quan đến tiền sản giật và các bệnh lý về huyết áp.

Hầu hết thai phụ được khuyên là nên bổ sung acid folic nhưng vitamin cũng không kém phần quan trọng, nó giúp acid folic chuyển hóa nhanh, có thể làm giảm nguy cơ của một số khuyết tật bẩm sinh cho bé trong bụng mẹ. Nếu thiếu acid folic, thai nhi dễ bị sứt môi, nứt đốt sống cổ, tim mạch…

Ngoài ra thai phụ nếu thiếu vitamin K sau tuần thứ34 của thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ rối loạn đông máu ở trẻ sơ sinh được gọi là coagulopathy.

3 Những hậu quả mà động kinh thai kỳ gây ra

Động kinh trong khi mang thai có thể khiến sẩy thai nếu thai phụ co giật nặng.

Khoảng 25 – 40%  phụ nữ có sự gia tăng cơn động kinh mãnh liệt trong khi họ đang mang thai.

Chảy máu âm đạo.

Khả năng cơn động kinh xảy ra thường xuyên thường kéo dài cho đến lúc sinh nở.

Tiền sản giật (biểu hiện rõ nhất là sự kết hợp của huyết áp cao và sự hiện diện của protein trong nước tiểu sau 20 tuần của thai kỳ).

 Nhau thai bị bóc tách.

4 Bệnh ảnh hưởng như thế nào đến việc sinh nở và cho con bú?

Dĩ nhiên việc sinh nở vẫn diễn ra bình thường đối với phụ nữ bị động kinh, mặc dù có nguy cơ xuất huyết, sản giật, sinh sớm và buộc phải mổ lấy thai là rất cao. Bác sĩ có thể  sử dụng một loại thuốc hỗ trợ chống co giật được tiêm vào tĩnh mạch thai phụ để giảm nguy cơ động kinh trong quá trình “lâm bồn”.

5 Cách phòng ngừa

Tốt nhất là bạn hãy thiết lập một chế độ ăn uống lành mạnh, ngủ đủ  giấc và tập thể dục thường xuyên.

Bổ sung acid folic và vitamin các loại để ngăn ngừa các khuyết tật bẩm sinh cho bé.

Sử dụng thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Nhập viện ngay nếu có bất kỳ dấu hiệu tăng nặng sau: choáng, ngất, nhức đầu nhiều, nôn ói, khó thở, chảy máu âm đạo….

Không sử dụng nhiều đường và thức uống chứa chất kích thích như cà phê, trà, rượu…

Chọc ối và siêu âm cao cấp có thể được thực hiện trong thai kỳ để đảm bảo rằng bé đang phát triển bình thường, ngoài ra còn có thể sử dụng phương pháp thử nghiệm huyết thanh alpha-fetoprotein.

Tuy nhiên, nếu rủi ro thì một số biến chứng thai nhi và sản khoa kết hợp, lúc này nguy cơ khuyết tật bẩm sinh là khoảng 4 – 6% . Nguy cơ mắc bệnh động kinh của trẻ sinh ra từ  người mẹ bị bệnh động kinh chỉ khoảng 5%, nếu đó không phải là một dạng rối loạn di truyền.

6 Phụ nữ mang thai có nên chữa trị động kinh?

Đặc biệt là bà mẹ mang thai đã từng có tiền sử co giật hay có di truyền về động kinh thì tỷ lệ động kinh ở những bà mẹ này cao hơn ở những phụ nữ khác. Phụ nữ mang thai bị động kinh phải đối mặt với nhiều câu hỏi...

Có nên điều trị?

 Những bà mẹ bị động kinh có nguy cơ bị sảy thai, đẻ non cao hơn do những chấn thương vùng bụng trong cơn động kinh và gia tăng tỷ lệ thai chết lưu. Trẻ sinh ra từ bà mẹ động kinh có nguy cơ bị chậm phát triển trí tuệ và các cơn co giật giống động kinh ở thế hệ con cháu tăng lên gấp đôi. Điều này thực sự là những biến cố vô cùng đáng ngại với những bà mẹ mang thai.

 Như vậy là nếu một bà mẹ mang thai bị động kinh không điều trị thì sẽ phải đối mặt với các yếu tố xấu sau đây:

 - Bệnh động kinh không hề thuyên giảm, thậm chí là nặng hơn;

 - Bệnh động kinh có thể khó điều trị hơn, đáp ứng kém với thuốc do hiện tượng gián đoạn điều trị gây ra;

 - Thai kỳ không an toàn để lại dư chấn động kinh ở những đứa trẻ sau sinh và thậm chí ở những thế hệ con cháu của chúng.

 Vì vậy, đối với những trường hợp này vẫn phải tiếp tục dùng thuốc...

 Việc tiếp tục uống thuốc điều trị sẽ có những mặt lợi rõ ràng để khống chế bệnh động kinh và những hiệu ứng bắc cầu tới thai kỳ cho mẹ. Nhưng nó không phải là một biện pháp an toàn tuyệt đối vì chính biện pháp can thiệp thuốc trong thai kỳ cũng chứa đựng trong đó các yếu tố nguy cơ...

 Những quan ngại khi dùng thuốc có thể gây quái thai dị dạng

 Về mặt tác dụng phụ của thuốc chống động kinh là tác động mạnh mẽ tới thai nhi. Đó là khả năng gây quái thai và tử vong thai nhi.

 Người ta đã theo dõi chặt chẽ tình hình sử dụng thuốc của bà mẹ và sức khỏe của em bé thấy, tất cả thuốc chống động kinh đều làm quái thai và tử vong thai nhi gấp 2-3 lần so với thông thường. Những dị dạng hay khuyết tật bẩm sinh có thể gặp ở mọi bộ phận, nhưng thường thấy những biến chứng này ở mặt, chân tay và cột sống.  Điển hình cho quái thai ở mặt là hở môi và hở hàm ếch. 

Các khuyết tật bẩm sinh này ở bà mẹ bình thường là 2-3% nhưng với bà mẹ phải sử dụng thuốc chống động kinh thì có thể lên tới 4-5%. Thậm chí, theo dõi một nhóm bà mẹ mang thai có nguy cơ cao quái thai dị dạng, người ta còn thấy nó làm gia tăng tỷ lệ quái thai lên tới 20% nếu dùng thuốc. Các quái thai, dị dạng khác được ghi nhận bao gồm mũi ngắn, hai đuôi mắt cách quá xa nhau.

 Ngoài khuyết tật trên mặt, thuốc chống động kinh còn gây thay đổi trên chân tay của đứa trẻ mới sinh ra như ngón tay, ngón chân ngắn tũn, thậm chí còn bị dính liền vào nhau.

 Trên cột sống, có một tỷ lệ nhỏ trẻ em bị khuyết tật ống sống do thuốc chống động kinh, đặc biệt là những bà mẹ được sử dụng valproate trong điều trị. Khuyết tật này cũng tăng lên ở bà mẹ dùng một liệu trình điều trị đa thuốc kết hợp.

 Ngoài ra, với trẻ em được sinh ra từ những bà mẹ điều trị động kinh có thể có những rối loạn về đông máu. Người ta thấy, khi bà mẹ mang thai sử dụng phenobarbital hay những thuốc chống động kinh khác để điều trị thì đứa trẻ sinh ra có nguy cơ bị rối loạn khả năng cầm máu và đông máu. Máu chảy ra không thể cầm lại được, độ bền thành mạch máu bị suy yếu do thiếu vitamin K. Vì thuốc chống động kinh là nguyên nhân gây ra thiếu hụt vitamin K ở những em bé này. Tình trạng rối loạn đông máu có thể kéo dài tới 1 tháng tuổi thậm chí là lâu hơn nữa, tới lúc 1 tuổi thì mới có thể trở về bình thường.

 Dùng thuốc như thế nào?

 Có hai vấn đề cần giải  quyết, đó là bệnh lý động kinh của mẹ và an toàn thai nhi. Việc tiếp tục dùng thuốc hay không cần phải cân nhắc giữa mặt lợi và mặt hại của liệu pháp này.

 Thuốc chống động kinh nên tiếp tục sử dụng ở những bà mẹ mang thai có động kinh hoặc có cơn động kinh gần nhất. Đặc biệt là những bà mẹ có cơn động kinh liên tiếp, động kinh cơn lớn, động kinh toàn thể, những dạng động kinh nặng. Bởi nó sẽ giúp chúng ta thành công hóa mục tiêu kiểm soát và tránh được biến cố đình chỉ thai nghén do sảy thai gây ra.

 Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc cần thận trọng. Không nên cố sử dụng ở những người có tiền sử gia đình mà cả bố và mẹ đều mang trên mình những khuyết tật bẩm sinh do di truyền. Khi dùng thuốc, đặc biệt lưu ý tới thời kỳ đầu của thai nhi. Để tránh được biến thể quái thai nên sử dụng thuốc có khả năng gây quái thai thấp nhất. Trong số các thuốc chống động kinh thì phenytoin được coi là có chỉ số quái thai an toàn. Đồng thời, chúng ta cũng xem xét giảm liều phù hợp trong 3 tháng đầu tiên này để giảm tối đa liều gây biến chứng.

 Tránh tối đa nếu có thể thuốc chống động kinh valproic cho bà mẹ mang thai vì chúng được coi là gây quái thai mạnh mẽ. Nhất là những bà mẹ có tiền sử dị dạng di truyền gia đình như có ông bà, cha mẹ bị khuyết tật bẩm sinh.

 Không nên sử dụng thuốc mới để điều trị bệnh ở các đối tượng này vì chúng ta chưa thể kiểm soát hết được những biến cố thai nhi so với các thuốc kinh điển. Các thuốc kinh điển vì lý do có lịch sử điều trị dài lâu nên chúng ta dễ kiểm soát được tác hại được coi là nguy hiểm đến thế hệ tương lai này.