1. Khái niệm:

Người ta định nghĩa thiếu máu trong thai nghén khi tỷ lệ hemoglobin (Hb)<10g/100ml và được gọi là thiếu máu nặng nếu Hb < 8g/100ml máu.

2. Nguyên nhân:

a. Sự thay đổi huyết học lúc mang thai:

-       Trong cơ thể của sản phụ mang thai, luôn có sự tăng thể tích huyết tương biểu hiện ngay ở ba tháng đầu của thai kỳ, thường tăng trong khoảng từ 30 - 50% lúc cuối thời kỳ thai nghén).

-       Thường có sự tăng nhiều thể tích huyết tương hơn là huyết cầu (đặc biệt là hồng cầu) dẫn đến sự giảm hematocrit, chính vì vậy không thể dựa vào yếu tố hematocrit để chẩn đoán tình trạng thiếu máu.

b. Chuyển hóa sắt cũng biến đổi trong lúc có thai và nhu cầu sắt cũng tăng lên:

-       Do tăng tạo hồng cầu.

-       Do nhu cầu của thai, thay đổi từ 200 - 300 mg và tăng gấp đôi trong trường hợp song thai.

-       Việc không hành kinh trong lúc có thai cũng làm hạn chế sự tiêu thụ sắt. Ngoài ra, hấp thụ sắt khi có thai tăng từ 30 - 90% và tình trạng cần huy động sắt dự trữ của mẹ đã cho phép giữ được cân bằng cung cầu trong giai đoạn cuối của thai kỳ nếu không có tình trạng thiếu sắt trước khi có thai hay tiêu thụ sắt bất thường do đa thai hay tình trạng chảy máu trong thai kỳ.

-       Hiện tượng mất máu trong lúc sổ rau hay cho con bú trong thời kỳ hậu sản còn làm tăng nhu cầu sử dụng sắt và chính các lần mang thai quá gần nhau sẽ không cho phép tái tạo lại kho dự trữ sắt của sản phụ.

-       Một sự thay đổi khác trong thời kỳ mang thai là chuyển hóa acide folic. Acide folic là một đồng yếu tố cần cho việc tổng hợp AND. Nếu thiếu acide folic thường phối hợp với việc thiếu sắt. Đây cũng chính  nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu trong thai kỳ.

-       Đặc biệt, nếu thiếu Vitamin B12 cũng gây ra thiếu máu hồng cầu khổng lồ. Cho nên biểu hiện thiếu máu trong thai kỳ được biểu hiện tình trạng thiếu sắt, hiếm gặp hơn là thiếu Folat.

c. Các nguyên nhân ngoại cảnh:

-       Đẻ nhiều lần.

-       Cho con bú kéo dài.

-       Đa thai.

-       Chảy máu kéo dài trước lúc có thai (rong kinh...)

-       Chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng.

-       Ngoài ra, một yếu tố thuận lợi khác là nhiễm khuẩn đường tiết niệu (đặc biệt là nhiễm khuẩn mãn tính đường tiết niệu cũng thường gây nên thiếu máu).

3. Triệu chứng:

a. Lâm sàng:

-       Da, niêm mạc nhợt nhạt.

-       Suy nhược cơ thể.

-       Nhịp tim nhanh, khó thở, ù tai, chóng mặt.

-       Có thể viêm lưỡi (3 tháng cuối thai kỳ)

-       Vàng da nhẹ: có thể do thiếu Folat

b. Cận lâm sàng:

-       Xét nghiệm công thức máu: hồng cầu giảm.

-       Hemoglobin (Hb) giảm < 10g/100ml máu.

-       Xét nghiệm tủy đồ: hồng cầu nhỏ, hồng cầu to, hồng cầu bình thường tùy theo loại thiếu máu.

-       Xét nghiệm sắt huyết thanh, Acide folic, Folat đều giảm.

4. Nguy cơ:

-       Thiếu máu trong thai nghén có thể dẫn đến:

-       Nguy cơ đẻ non, suy dinh dưỡng thai nhi.

-       Tăng thể tích bánh rau.

-       Nếu chảy máu thêm trong thai kỳ, lúc chuyển dạ, sau đẻ... thì tình trạng sản phụ nặng hơn so với sản phụ bình thường.

-       Tình trạng thiếu Oxygen làm mẹ mệt, nhịp tim nhanh lên.

-       Trong giai đoạn hậu sản, thiếu máu thường làm tăng nguy cơ nhiễm trùng hậu sản (viêm tắc tĩnh mạch)

5. Điều trị:

-       Tùy thuộc vào mực độ thiếu máu có hướng xử lý phù hợp, cần có chỉ định của bác sỹ.

-       Điều trị dự phòng ở tuyến dưới trong quản lý thai nghén bằng cách cho sản phụ dùng sắt suốt thai kỳ (đặc biệt nhóm sản phụ có nguy cơ thiếu máu).

6. Phòng bệnh:

-       Bổ sung viên sắt cho phụ nữ mang thai:Việc bổ sung có thể tiến hành ngay khi bà mẹ có thai đến khám lần đầu và đều đặn suốt thời gian mang thai cho tới sau khi sinh 1 tháng.

-       Sử dụng các thực phẩm có tăng cường sắt:Trên thế giới, sắt được nghiên cứu bổ sung vào các loại thức ăn như sữa, bột ngũ cốc, bánh mì, sữa bột đậu tương, bánh bích quy.

-       Biện pháp cải thiện chế độ ăn:Cải thiện bữa ăn của phụ nữ mang thai, lựa chọn các thức ăn động vật giàu sắt, thức ăn giàu vitamin C. Hạn chế các yếu tố gây ức chế hấp thu sắt trong thức ăn.

-       Phòng chống giun móc và vệ sinh môi trường:Giun móc là yếu tố tăng cao nguy cơ thiếu máu dinh dưỡng ở nước ta sau yếu tố dinh dưỡng và tồn tại ở các địa phương trong cả nước. Do đó phải cải thiện tình trạng môi trường, nước, phát động phong trào 3 công trình vệ sinh: hố xí, giếng nước, nhà tắm; không dùng phân tươi làm phân bón.