1. Định nghĩa

Bệnh giãn phế quản là giãn liên tục, vĩnh viễn không hồi phục của một hoặc nhiều phế quản có đường kính trên 2 mm bởi sự phá hủy tổ chức chống đỡ như: Lớp cơ, chun, lớp sụn của vách phế quản.

2. Nguyên nhân
-        Giãn phế quản do tắc nghẽn phế quản: Tắc phế quản do dị vật, Tắc phế quản do u trong lòng phế quản, Tắc phế quản do sẹo cũ của các chấn thương, viêm nhiễm.

-        Giãn phế quản do lao.

-        Giãn phế quản xảy ra ở bệnh nhân hen phế quản.

-        Giãn phế quản và viêm phế quản mạn tính.

-        Giãn phế quản và các bệnh phổi khác: Áp xe phổi, Kén hơi phổi bị bội nhiễm, Nhiễm khuẩn phổi sau mổ.

-        Giãn phế quản tiên phát ở trẻ em: Hội chứng Mounier Kuhn (giãn phế quản và viêm xoang sàng, xoang má, thường có viêm mũi có mủ, polyp mũi), tam chứng Kartagener (giãn phế quản viêm xoang sàng, xoang má, đảo ngược phủ tạng, bệnh có tính chất gia đình).

3. Triệu chứng

Biểu hiện phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh, diện rộng và mức độ giãn của phế quản.

-        Sốt: bệnh nhân chỉ sốt ở giai đoạn ứ đọng mủ và đờm trong phế quản do không khạc ra được. Nhiệt độ thường khoảng 380C, ít khi đến 39-400C. Ngoài những đợt này thì bệnh nhân có thể không sốt.

-        Thể trạng thường gầy yếu, mệt mỏi, nhức đầu, chán ăn. Ở trẻ em thường thấy chậm lớn, chậm dậy thì, lồng ngực bên tổn thương bé hơn bên lành, cân nặng và chiều cao đều kém so với trẻ cùng tuổi bình thường.

-        Dấu hiệu “ngón tay dùi trống” và “móng tay hình mặt kính đồng hồ”: dấu hiệu này có thể gặp ở khoảng 1/3 số bệnh nhân bị bệnh giãn phế quản. Thường gặp ở những bệnh nhân bị bệnh lâu ngày, toàn trạng nặng, có các rối loạn về chức năng hô hấp và tim mạch.

-        Ho ra đờm: đây là triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Thường ho về sáng vào những đợt bội nhiễm do có nhiều đờm mủ ứ đọng trong phế quản giãn. Những trường hợp ho nhiều đờm còn được gọi là loại giãn phế quản “thể ướt”.

-        Ho ra máu: khoảng 20-50% bệnh nhân giãn phế quản có ho ra máu. Những trường hợp ho ra máu mà không có đờm được gọi là loại giãn phế quản “thể khô”, trước đây loại này thường bị nhầm với lao phổi. Số lượng máu ho ra thường ít nhưng có biệt có trường hợp ra máu khá nhiều (500 ml). Một số bệnh nhân ho ra máu lẫn đờm, nhất là vào những đợt bị bội nhiễm.

-        Đau tức ngực, khó thở: Các triệu chứng này thường xuất hiện trong những đợt bội nhiễm nặng.

-        Nghe thấy có nhiều ran ẩm ở phổi, có khi có một số ran khô và giảm tiếng rì rào phế nang ở khu vực có giãn phế quản. Nếu có xẹp phổi thì thấy có hội chứng đông đặc co kéo tương ứng với vùng phổi xẹp.

4. Các xét nghiệm cần thực hiện

-        Chụp X quang ngực thường

-        Chụp phế quản cản quang:

-        Chụp động mạch phế quản: Soi phế quản, Đo khí máu:

5. Biến chứng

-        Viêm phổi tái diễn ở vùng phế quản giãn.

-        Apxe phổi, nhất là khi giãn phế quản ở thuỳ lưỡi vì mủ trong các phế quản giãn ở vùng này khó được dẫn lưu ra ngoài.

-        Mủ màng phổi.

-        Khí thũng phổi.

-        Thoái hoá dạng tinh bột ở thận, gan và các cơ quan nội tạng khác.

-        Suy hô hấp mãn và tâm phế mãn.

6. Điều trị

-        Phải phục hồi chức năng hô hấp: Thường xuyên tập thở, ho có điều khiển, vỗ ngực cho đờm dễ dàng dẫn lưu ra ngoài, nằm đầu thấp với các tư thế khác nhau tùy theo vùng phế quản giãn để dẫn lưu theo tư thế; Phun hít thuốc giãn nở phế quản. Khi bệnh nhân sốt, khạc nhiều đờm, đờm mủ, biến chứng nhiễm khuẩn nhu mô, màng phổi dùng các kháng sinh theo chỉ định của thầy thuốc.

-        Phẫu thuật khi giãn phế quản cục bộ một bên phổi, khi nung mủ nhiều hoặc ho máu nặng, điều trị nội khoa thất bại.

a. Điều trị giãn phế quản lan tràn:

-        Chủ yếu là điều trị nội khoa để giải quyết triệu chứng bằng cách:

-        Dẫn lưu tư thế để mủ và các chất xuất tiết trong phế quản giãn dễ dàng thoát ra ngoài.

-        Dùng các thuốc long đờm, thuốc làm loãng đờm, khí dung có kháng sinh...

-        Uống nhiều nước để làm loãng đờm.

-        Khi có đợt bội nhiễm phải dùng kháng sinh tích cực theo kháng sinh đồ.

-        Chú ý tập thở tốt.

b. Điều trị giãn phế quản khư trú:

-        Điều trị triệt để phải mổ cắt bỏ thuỳ phổi hoặc cả lá phổi có giãn phế quản. Chỉ mổ khi đã hết đợt bội nhiễm.

-        Nếu bị cả hai phổi nhưng ở mỗi phổi giãn phế quản chỉ khư trú tại một thuỳ thì vẫn có thể chỉ định mổ: Mổ lần lượt, mỗi lần chỉ cắt thuỳ phổi có giãn phế quản ở một bên.

-        Nếu giãn phế quản có ho ra máu nặng thì có thể mổ cắt thuỳ phổi nơi có giãn phế quản hoặc tiến hành gây tắc động mạch phế quản ở vùng có giãn phế quản thông qua thủ thuật chụp động mạch phế quản.

7. Phòng bệnh

-        Không để viêm phế quản, viêm phổi kéo dài hoặc tái diễn, nhất là ở trẻ em.

-        Điều trị tốt bệnh lao phổi, lấy bỏ sớm các dị vật ở phế quản.

-        Loại trừ mọi kích thích phế quản: Thuốc lá, thuốc lào.

-        Tìm và điều trị các ổ nhiễm khuẩn răng, tai mũi họng.

-        Tiêm vắc xin phòng cúm, chống phế cầu…