1. Khái niệm

            Viêm đường hô hấp trên là tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp trên do ảnh hưởng của các vi sinh vật gây bệnh. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa (khoảng tháng 9 đến tháng 3), lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp.

2. Nguyên nhân

            Virus là nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm đường hô hấp trên. Trong đa số các trường hợp trẻ mắc bệnh do nhiễm các loại virus như Influenza, Parainfluenza, hợp bào hô hấp (RSV), Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Coronavirus…. Đôi khi còn có sự tham gia của các vi khuẩn như phế cầu ( Streptococcus pneumoniae), liên cầu nhóm A (Streptococcus pyogenes), Hemophilus influenza, B. catarrhalis…

3. Triệu chứng

            Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy. Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

            Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39oC trở lên. Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, người bệnh hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó người bệnh sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.

            Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh sẽ bị khàn tiếng. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.

4. Các thể nhiễm bệnh

Viêm đường hô hấp trên được chia thành 2 loại:

           + Viêm đường hô hấp trên cấp tính: Bệnh xảy ra khi gặp một số yếu tố thuận lợi tác động vào cơ thể như thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh; uống nước quá lạnh hoặc nằm, ngồi trước luồng gió lạnh... Triệu chứng gặp đầu tiên là sốt (có thể sốt nhẹ, đôi khi sốt cao và rét run), kèm theo là ho (ho húng hắng hoặc ho liên tục), hắt hơi và chảy nước mũi. Ngoài ra còn có triệu chứng đau họng khi nuốt nước bọt, khi ăn. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm thì rất dễ dàng chuyển thành viêm đường hô hấp mạn tính.

           + Viêm đường hô hấp trên mạn tính: Khi gặp điều kiện thuận lợi, thời tiết thay đổi khiến bệnh viêm đường hô hấp mạn tính dễ tái phát. Biểu hiện của viêm đường hô hấp mạn tính là ho húng hắng, rát họng, thấy vướng khi nuốt (như có vật gì nằm trong họng), chảy nước mũi thường xuyên (một hoặc cả hai bên mũi). Nghẹt mũi (một bên hoặc cả hai) do hiện tượng phì đại cuốn mũi... ở những trường hợp bị viêm xoang thường có kèm theo triệu chứng đau đầu...Một số trẻ em bị VA mạn tính kéo dài mà căn nguyên do trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) thì chất nhày chảy ra ở mũi thường có màu xanh thường gọi là “thò lò mũi xanh”. Ngoài chảy nước mũi, khi ngủ trẻ thường thở bằng miệng.

5. Biến chứng nguy cơ

            Một trong các biến chứng nghiêm trọng là tử vong do đồng nhiễm với bệnh đường hô hấp dưới và chúng tự làm nặng lẫn nhau.

            Biến chứng cũng hay gặp đó là biến chứng viêm đường hô hấp dưới nếu viêm đường hô hấp trên không được xử trí đúng đắn và đúng mức. Do đó, với một bệnh hết sức thông thường như cảm lạnh trong mùa đông thì có thể đưa đến viêm phổi, nhất là ở trẻ em.

            Ngoài những biến chứng này thì viêm đường hô hấp trên thể nặng, thể do vi khuẩn dễ gây ra những biến chứng cơ thể khác như viêm não, viêm tim, viêm cầu thận, thấp khớp cấp. Vì vậy cần có thái độ dự phòng đúng mức với bệnh này.

6. Cơ chế lây nhiễm

            Bị nhiễm bệnh khi hít phải dịch tiết có chứa vi khuẩn hay virus do người bệnh bắn ra khi họ ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc do cầm nắm các vật dụng, đồ chơi nhiễm bẩn bị bám dịch tiết hay có sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh.

7. Điều trị

Chăm sóc và chữa bệnh cho trẻ

            Để nhanh chóng hồi phục, trẻ cần phải được chăm sóc và điều trị thích hợp. Nên cho trẻ ăn uống bình thường khi bệnh, tránh kiêng cữ thái quá, cần cho ăn thêm bữa khi trẻ lành bệnh để bổ sung lượng dinh dưỡng thiếu hụt.

            Dùng thuốc giảm sốt thông thường như Acemol, Ibuprofene…

            Dùng nước muối sinh lý (NaCl 0.9%) nhỏ mũi cho bé và làm thông mũi trước khi cho ăn, cho bú.

            Nếu trẻ ho có thể dùng những bài thuốc an toàn dể kiếm như hoa hồng bạch chưng đường phèn, húng chanh hấp mật ong để làm dịu cơn ho.

Ngoài ra lau mát được xem là một biện pháp hữu hiệu giúp hạ nhiệt cho bé. Thay vì dùng nước lạnh, hãy dùng khăn nhúng nước ấm để lau người cho bé, nên tập trung lau mát ở trán, hõm nách, khuỷu tay, bẹn.

            Không phải tất cả các trường hợp đều cần thiết dùng kháng sinh vì vậy hãy cân nhắc khi quyết định sử dụng kháng sinh và chắc rằng bạn đã tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi cho bé uống các loại thuốc này.

            Nếu các triệu chứng không cải thiện hoặc ngày càng xấu đi, trẻ cần phải được theo dõi kỹ và điều trị tích cực hơn. Phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay nếu bé có một trong các dấu hiệu như mệt hơn, thở nhanh hơn, khó thở hơn, bú kém hoặc không uống được.

8. Phòng bệnh

-        Thường xuyên dọn dẹp nhà cửa, giữ nhà cửa luôn thông thoáng, sạch sẽ.

-        Khi mang thai, mẹ cần có một chế độ ăn hợp lý giàu dinh dưỡng, khám thai định kỳ.

-        Nên cho trẻ bú mẹ sớm từ những giờ đầu sau sinh, duy trì sữa mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi, cho trẻ ăn dặm đúng cách và đúng thời điểm.

-        Bên cạnh chương trình tiêm chủng quốc gia, có thể tư vấn bác sĩ để chích ngừa thêm cho bé một số loại vaccin cần thiết khác.

Phòng tránh lây lan:

            Khi có dịch bệnh nên tránh đưa gia đình đến những nơi đông người, thường xuyên rửa tay và giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ.

            Đeo khẩu trang mỗi khi tiếp xúc với người bệnh, rửa tay trước và sau khi chăm sóc người bệnh. Nên cố gắng cách ly trẻ bệnh với trẻ lành và những thành viên khác trong gia đình ít nhất 7 ngày để tránh lây lan.

9. Câu hỏi liên quan

Câu 1: Sử dụng điều hòa thế nào để tránh viêm đường hô hấp?

            Để phòng ngừa “tác dụng phụ” của điều hòa, các bác sĩ nhi khoa cho biết, đối với trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi, nên đặt nhiệt độ từ 26-28 độ C. Trẻ sơ sinh thì nhiệt độ cao hơn (29- 30 độ C). Vị trí đặt ở trên cao chứ không nên đặt dưới thấp. Cánh cửa gió của điều hòa không nên đặt trực tiếp hướng về phía trẻ nằm, không nên đặt tốc độ quạt gió quá mạnh. Nên đặt ở tốc độ quạt gió thấp nhất và nên để ở chế độ quay chứ không nên để ở chế độ chạy thẳng một góc. Trong phòng điều hòa phải có quạt thông gió đối diện bên đặt điều hòa.

            Không nên để trẻ ra vào phòng có điều hòa nhiều lần trong một thời gian nhất định, như thế sẽ dễ bị ốm vì thay đổi nhiệt độ quá nhanh (khoảng 5-6 lần/1 tiếng). Các gia đình có trẻ nhỏ không nên sử dụng thiết bị phun ẩm, phun sương trong phòng vì sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn, virut gây bệnh phát triển và xâm nhập cơ thể.