1. Khái niệm

Viêm phế quản là một bệnh lý của đường hô hấp, khi bị viêm, niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, gây ra khó thở, ho và có thể kèm theo đờm đặc.

2. Các thể nhiễm bệnh

Viêm phế quản được chia thành 2 dạng là cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm).

3. Nguyên nhân

a. Viêm phế quản cấp tính:

-        Vi rút và nhóm vi khuẩn không điển hình: chiếm 50 - 90% các trường hợp. Các vi rút hay gặp: Rhino vi rút; Echo vi rút; Adeno vi rút; Myxo vi rút influenza và Herpes vi rút.
Ở trẻ em hay gặp vi rút hợp bào hô hấp và vi rút á cúm. Các vi khuẩn không điển hình như: Mycoplasma Pneumonia, Chlamydia.

-        Vi khuẩn: thường viêm lan từ đường hô hấp trên xuống, các vi khuẩn gồm: liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, Heamophilus influenzae, Moraxella catarrhalis. Những vi khuẩn này thường bị bội nhiễm thứ phát sau nhiễm vi rút. Ngoài ra viêm phế quản cấp còn có thể gặp trong các bệnh: sởi, thuỷ đậu, ho gà, thương hàn, bạch hầu.

-        Các yếu tố hoá, lý: hơi độc (Clo, Amoniac), bụi nghề nghiệp, khói thuốc lá, không khí quá khô, ẩm, lạnh, hoặc quá nóng.

-        Dị ứng: ở trẻ em, người lớn bị dị ứng nặng phù Quink, mày đay.

-        Yếu tố thuận lợi: thay đổi thời tiết, bị nhiễm lạnh, thể địa yếu, mắc bệnh đường hô hấp trên.

b. Viêm phế quản mạn tính:

-        Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.

-        Bụi ô nhiễm: SO2, NO2. Bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.

-        Nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virut, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.

-        Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A, thiếu hụt IgA...

-        Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.

4. Triệu chứng

a. Viêm phế quản cấp:

-        Viêm phế quản cấp thường xuất hiện cùng lúc hoặc ngay sau viêm đường hô hấp trên: hắt hơi, sổ mũi, ho khan, rát họng.

-        Hai giai đoạn của viêm phế quản cấp:

+        Giai đoạn đầu (3 - 4 ngày) (còn gọi là giai đoạn viêm khô).

+        Sốt 38 - 390C, có thể tới 400, mệt mỏi, đau đầu, nhức mỏi xương khớp, cảm giác nóng rát sau xương ức. Khó thở nhẹ, có thể có tiếng rít, ho khan, có ho thành cơn về đêm. Nghe phổi có ran rít, ran ngáy.

+        Giai đoạn sau: (6 - 8 ngày) còn gọi là giai đoạn xuất tiết.

-        Các triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm, ho khạc đờm nhầy, hoặc đờm mủ (khi bội nhiễm). Nghe phổi có ran ẩm. X quang phổi: có thể bình thường hoặc huyết phế quản đậm (rốn phổi đậm).

b. Viêm phế quản mạn tính:

-        Thường ở người trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào. Thường xuyên ho khạc về buổi sáng. Đờm nhầy trong, dính hoặc màu xanh, vàng đục, mỗi ngày không quá 200ml. Mỗi đợt kéo dài 3 tuần, tăng về mùa đông và đầu mùa thu.

-        Đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính, thường xảy ra ở người già, yếu, do bội nhiễm. Có thể sốt, ho, khạc đờm và khó thở, có thể tử vong do suy hô hấp và tâm phế mạn.

-        Ở người mắc bệnh lâu năm (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), lồng ngực biến dạng hình thùng, hình phễu, khó thở rút lõm cơ hô hấp, rút lõm kẽ gian sườn, phần đáy bên của lồng ngực co hẹp lại khi hít vào, rút lõm hõm ức, khí quản tụt xuống khi hít vào. Có thể có hội chứng ngừng thở khi ngủ.

-        Chụp phổi hay gặp hình ảnh “huyết phế quản đậm” ở vùng rốn phổi lan tỏa xuống đáy phổi, hay 2 đáy phổi quá sáng (KPT), hình ảnh nhiều hạt cục nhỏ dọc theo phế quản xuống đáy phổi.

-        Xét nghiệm đờm thấy nhiều loại vi khuẩn. Rất khó xác định vi khuẩn nào gây bệnh là chính (trong miệng có rất nhiều vi khuẩn), trong thực hành hằng ngày lấy đờm làm kháng sinh đồ ít có giá trị.

-        Xét nghiệm công thức máu: Số lượng hồng cầu, bạch cầu ít thay đổi trừ phi đợt viêm cấp sẽ có số lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

-        Soi phế quản thấy niêm mạc phế quản đỏ, phù nề, tăng tiết đờm, co thắt phế quản. Xét nghiệm dịch phế quản tìm tác nhân gây bệnh tương đối có giá trị nhưng cũng dễ nhầm lẫn.

5. Biến chứng

a. Viêm phế quản cấp tính:

-        Viêm phổi, phế quản phế viêm: thường xảy ra ở người già và trẻ em suy dinh dưỡng.

-        Tăng tính phản ứng của phế quản với lạnh, khói và bụi, kéo dài vài tuần sau viêm phế quản cấp. Biểu hiện bằng ho khan kéo dài hàng tuần lễ.

b. Viêm phế quản mạn tính:

-        Khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.

-        Tâm phế mạn, cao áp động mạch phổi.

-        Bội nhiễm: viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi...

-        Suy hô hấp: cấp và mạn.

6. Điều trị

* Tây y:

a. Viêm phế quản cấp tính:

-        Khi ho khan: dùng thuốc giảm ho như: Terpin-codein, Paxeladine. Giai đoạn ho khạc đờm dùng thuốc long đờm: ho Cam thảo, Mucomyst, Mucitux.

-        Kháng sinh: khi có bội nhiễm hoặc người có nguy cơ biến chứng.

-        Khi có co thắt phế quản: Dùng thuốc chống co thắt

-        Thuốc an thần, kháng Histamin.

-        Có thể dùng Prednisolon cho những trường hợp ho kéo dài có co thắt phế quản một đợt ngắn 5 đến 10 ngày.

b. Viêm phế quản mạn tính:

* Đối với viêm phế quản mạn, không có tắc nghẽn:

Khi có bội nhiễm phế quản:

-        Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ.

-        Long đờm: Natribenzoat 3% , hoặc Acemuc, Bisorven, Mucosolvan, RhDnase.

-        Vỗ rung và dẫn lưu theo tư thế. Ngày 2-3 lần. Mỗi lần 15 phút-30 phút.

-        Chống co thắt phế quản: xịt Salbutamol hoặc uống Theophylin, nếu nhiều đờm xịt trovent.

* Đối với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn :

Ngoài các biện pháp trên cần thêm:

-        Chống viêm bằng nhóm Corticoid: xịt Budesonide (Pulmicort)  hoặc uống Prednisolon

-        Thở Oxy, thở máy, đặt nội khí quản hút rửa, chống suy tim khi có tâm phế mạn.

Ngoài đợt bùng phát: cần điều trị dự phòng và tập thở bụng.

7. Dinh dưỡng cho người bệnh viêm phế quản

Các loại thực phẩm, đồ uống nên tránh

-          Tránh hoặc hạn chế tối đa các món rán, xào như: khoai tây chiên, bánh rán, thịt rán,… Những món ăn giàu chất béo kể cả sữa chứa hàm lượng chất béo cao, calo cao cũng không được khuyến khích đối với bệnh nhân viêm phế quản, bởi nó là thủ phạm làm tăng triệu chứng khó thở ở bệnh nhân viêm phế quản.

-          Hạn chế lượng muối trong chế độ ăn hàng ngày. Thừa muối sẽ dẫn tới tình trạng cơ thể tích lũy chất lỏng. Khi đó các mô phế quản cũng hấp thụ chất lỏng, làm tình trạng viêm phế quản gia tăng, đồng thời quá trình sản xuất chất nhầy cũng tăng theo. Muối có nhiều trong các loại đồ ăn nhanh, đồ ăn đông lạnh, đồ ăn đóng hộp. Vì thế bệnh nhân viêm phế quản không nên tiêu thụ nhiều thức ăn nhanh, đông lạnh, chế biến sẵn.

-          Nên giảm lượng đường tinh luyện trong chế độ ăn đối với bệnh nhân viêm phế quản, bởi nếu bệnh nhân viêm phế quản thường xuyên tiêu thụ các loại đồ ăn như bánh kẹo, nước ngọt,… gây tình trạng đường tinh luyện trong cơ thể bị thừa, làm gia tăng hiện tượng khó thở.

-          Kiêng ăn các đồ cay nóng như ớt, hạt tiêu,… dễ gây kích thích niêm mạc phế quản gây hiện tượng ho.

-          Nên tránh các loại hoa quả chua, chát như: mận, táo chua vì những thực phẩm này sẽ khó long đờm.

-          Không nên uống rượu vì rượu làm gia tăng tình trạng viêm phế quản. Đặc biệt không nên uống rượu trước khi đi ngủ vì khả năng thông khí của phổi người bệnh vốn đã kém. Nếu uống rượu trước khi đi ngủ sẽ làm liệt trung khu hô hấp, dễ gây loạn nhịp thở hoặc ngừng thở dẫn đến nguy hiểm tới tính mạng.

Các loại thực phẩm tốt cho bệnh nhân viêm phế quản

-          Chế độ ăn nhiều trái cây và rau xanh sẽ cung cấp lượng vitamin cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra các loại vitamin như vitamin C, E, A, có tác dụng làm giảm tình trạng viêm ở phế quản, tình trạng khó thở của bệnh nhân. Các loại hoa quả, rau xanh giàu chất chống oxy hóa, đặc biệt tốt cho bệnh nhân viêm phế quản được bác sĩ khuyên dùng: dâu tây, các loại quả mọng, bông cải xanh, rau bina và cà rốt.

-          Nên ăn các thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu như gạo, bột mì, ngũ cốc, các thực phẩm khác như đậu Hà Lan, sữa bò, sữa đậu nành, đậu phụ, trứng gà.

-          Các sản phẩm từ sữa rất giàu vitamin D, canxi, và protein là nguồn dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho cơ thể. Bệnh nhân viêm phế quản nên tiêu thụ nhiều các sản phẩm từ sữa (tuy nhiên cần chú ý các sản phẩm sữa đó phải có hàm lượng chất béo thấp). Tốt nhất nên ăn nhiều sữa chua vì sữa chua chứa nhiều vi khuẩn thân thiện có lợi cho hệ thống tiêu hóa và cũng có tác dụng tốt đối với bệnh nhân viêm phế quản.

-          Uống nhiều nước sẽ giúp cơ thể đào thải các độc tố khỏi cơ thể một cách dễ dàng hơn. Những người bị viêm phế quản thường dễ bị mất nước hơn so với những người bình thường, uống nhiều nước sẽ giúp giảm tình trạng viêm, tình trạng khô họng của bệnh nhân.

Như vậy đối với bệnh nhân viêm phế quản thì một chế độ ăn uống hợp lý và cân bằng cũng là một trong những phương pháp góp phần tích cực để điều trị bệnh viêm phế quản.

8. Người bệnh hỏi bác sĩ trả lời

          Câu hỏi: Bệnh viêm phế quản co thắt là bệnh lý như thế nao? Cơ chế bệnh và cách điều trị

Trả lời: Phế quản là đường ống dẫn khí đi từ khí quản vào đến tận phổi, lúc đầu là phế quản gốc bên trái và phải, sau đó đến các phế quản nhỏ hơn rồi đến các tiểu phế quản tiếp giáp với các phế nang. Do vậy khi bị viêm phế quản, nghĩa là toàn bộ đường dẫn khí vào phổi bị viêm nhiễm và chít hẹp do phù nề, co thắt.

           Chính vì bị chít hẹp lòng phế quản do viêm nhiễm và co thắt nên trẻ có dấu hiệu thở khò khè, thậm chí thở rít lên. Do vậy bệnh viêm phế quản rất nguy hiểm. Khi phế quản bị co thắt mạnh có thể nguy hiểm đến tính mạng (nhất là trẻ nhỏ hay trẻ sơ sinh) nếu trẻ không được cấp cứu và điều trị kịp thời.

          Việc điều trị phải tùy thuộc vào căn nguyên gây bệnh. Hầu hết viêm phế quản là do virut, nếu là căn nguyên virut thì không phải điều trị thuốc kháng sinh. Ngoài virut, có rất nhiều mầm bệnh có thể gây nên viêm phế quản như phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn... Khi đã có biểu hiện nhiễm khuẩn thì cần điều trị bằng kháng sinh càng sớm càng tốt. Lý tưởng nhất là điều trị theo kháng sinh đồ, khi chưa có kết quả của kháng sinh đồ, có thể sử dụng các loại kháng sinh phổ rộng. Ví dụ như kháng sinh có hoạt chất là cefuroxim  là một trong những kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng (thuộc nhóm cephalosporin thế hệ thứ 2), có thể chỉ định tốt trong viêm phế quản. Khi điều trị kháng sinh, cần phải sử dụng đúng liều lượng đã được kê đơn và phải dùng đủ thời gian. Trong trường hợp của con bạn, do bạn dừng kháng sinh sớm, khi bệnh chưa dứt hẳn nên các triệu chứng lại tái phát trở lại làm cho con bạn lại bị ho, thở khò khè... chứ không phải bệnh diễn biến xấu đi. Ngoài thuốc kháng sinh, cần phải uống thêm các thuốc giãn phế quản (như ventolin hay salbutamol) và các thuốc làm loãng đờm (như acetylcystein) để tăng cường tác dụng điều trị của kháng sinh.

Trong thời gian điều trị kháng sinh kéo dài ảnh hưởng đến hệ tiêu hoá, nhất là trẻ em, bạn nên sử dụng cho con bạn cốm vi sinh để chống loạn khuẩn đường ruột và giúp hệ tiêu hoá khoẻ mạnh.

* Đông y:

Bài 1: Gừng tươi, rễ cây chè, mật ong một ít. Cho gừng, rễ chè vào nồi, đổ nước vừa đủ sắc một lúc, sau đó lọc chắt lấy nước thuốc, bỏ bã đi, đổ mật ong vào nước thuốc, khuấy đều, cho vào lọ dùng dần. Mỗi ngày uống hàng.
Bài 2: Tỏi củ, giấm ăn, đường đỏ. Tỏi bóc vỏ, tẽ nhánh giã nát cho vào lọ cùng với đường đỏ rồi rót giấm ăn vào sau đó bịt kín lọ, ngâm trong khoảng 15 ngày là được. Uống hàng ngày và ăn cả phần tỏi đã ngâm.
Bài 3: gừng già, gọt bỏ vỏ, chấm mật ong mà ăn. Chữa ho lâu ngày rất tốt.
Bài 4: Chanh. Buổi tối cắt quả chanh vắt lấy nước, pha vào 1 ly nước nguội và 1 thìa đường phèn, đem phơi sương, rồi lúc 4 - 5 giờ sáng thức dậy uống hết. Uống trong 3 - 4 ngày là có tác dụng.
Bài 5: Tiêu sọ. Mua 1 cái dạ dày lợn để nguyên, lộn ra, cạo rửa sạch rồi lộn trở lại, cho tất cả hạt tiêu nguyên hột vào dạ dày lợn, thêm hành, tỏi, đường, muối, nấu chín rục. Lấy ra, hạt tiêu bỏ riêng phơi khô, ăn dạ dày lợn. Còn hạt tiêu để dành, mỗi lần uống trà nhai 3 - 5 hạt rồi nuốt cho ấm tạng phủ, sẽ hết ho luôn.
Bài 6: Mơ chín (bỏ hạt), chanh (vắt lấy nước), cam thảo, mật ong 1 thìa. Tất cả cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu chín rục, bỏ xác, lấy nước cô thành cao. Ngày ngậm 2 lần, mỗi lần 1 thìa con.
Bài 7: Gừng tươi, mật ong. Gừng rửa sạch, nghiền nhỏ, cho vào túi vải ép lấy nước, đổ vào nồi, thêm mật, đun nhỏ lửa cô thành cao đặc, cho lọ đậy kín. Khi dùng, hòa nước sôi mà uống, mỗi ngày uống 2 lần

9. Phòng bệnh

-        Bỏ các yếu tố kích thích: Thuốc lá, thuốc lào.

-        Có biện pháp bảo hộ lao động cho những người tiếp xúc với môi trường có nhiều bụi.

-        Phát hiện yếu tố di truyền, giảm miễn dịch ở những người có nghề nghiệp dễ bị bệnh.

-        Chống nhiễm virus: Tiêm chủng chống cúm mùa vào mùa thu, đông.

-        Cho kháng sinh vào những tháng mùa lạnh, mỗi đợt 10 ngày.

-        Điều trị tốt bệnh tai mũi họng

-        Dùng vitamin A, C, E.

-        Uống nước từ 1.5 lít đến 2 lít nước/ 1 ngày.

-        Nhà ở phải thoáng, mùa lạnh phải được che kín các khe hở, nên đóng cửa để tránh bụi.
Đối với người già và trẻ em cần giữ ấm chân, cổ, ngực nhất là khi ngủ và ra ngoài trời.
Mùa rét không tắm nước lạnh, nơi tắm phải kín, không có gió lùa.

-        Rửa tay thường xuyên.

-        Đeo khẩu trang khi phải thường xuyên tiếp xúc với bụi, người bị ho hoặc hắt hơi.