1. Khái niệm:

 

            Viêm củng mạc(VCM)  là 1 bệnh kinh niên gây đau nhức, tiến triển chậm có khả năng gây mù, tác động vào thượng củng mạc & củng mạc. Bệnh thường có những biến chứng của mắt. Viêm màng bồ đào trước, viêm giác mạc ngoại biên và glôcôm và phối hợp với bệnh mạch và bệnh mô liên kết toàn thân.

 

2. Nguyên nhân

 

            Chỉ có một nguyên nhân thường gặp nhất là viêm thượng củng mạc, biểu hiện duới dạng một đốm đỏ lợt vùng tròng trắng, thường rất đau nhưng không ảnh hưởng đến thị lực.

            Thường viêm thượng củng mạc là lành tính, không có nguyên nhân, tuy nhiên đôi khi là biểu hiện cuả những bệnh thuộc hệ kết mạc, viêm thấp khớp.. nên cần hỏi bệnh tỉ mỉ, có thể cần thêm các xét nghiệm thích nghi.

            Bệnh này thường thấy ở phụ nữ lớn tuổi hoặc già. Thường cho là ổ bệnh quá nhậy cảm phản ứng nhiễm trùng. Thường có quan hệ với lao, thống phong hoặc phong thấp, kinh nguyệt không đều, cũng có không rõ nguyên nhân.

            Trên lâm sàng tuy có phân ra viêm củng mạc nông và viêm củng mạc sâu, nhưng chứng trạng và trị liệu giống nhau. Đông y gọi là "Hoả cam", là nhiệt độc uất kết ở Phế kinh đưa đến, bệnh rất khó chữa lại dễ tái phát

 

3. Triệu chứng

 

            - Viêm củng mạc được chuẩn đoán căn cứ trên những đặc điểm lâm sàng của viêm, đau, cứng truyền lên trán, lông mày, hàm .v..v.. cùng với phù ở mô củng mạc, thượng củng mạc & những cương tụ các mạch ngoại biên  và trong sâu của thượng củng mạc.

            - Đau, chảy nước mắt & sợ ánh sáng, nhìn mờ, mạch máu cương tu và phù khóe mắt khu trú hay lan toả

            - Hạt gồ lên dưới khóe mắt, tân mạch xung quanh, rất đau

            - Chứng viêm sâu thì đau đớn rất dữ dội,lại lan toả đến vùng quanh mắt, nhìn vật mơ hồ.

 

4. Điều trị

 

            - Bác sĩ sẽ chỉ định dùng loại thuốc nhỏ mắt kiểu nước mắt nhân tạo được làm lạnh để điều hòa mắt và loại bỏ hiện tượng viêm nhiễm nhẹ.

            - Bệnh nhân bị VCM  phân tán hay hình hạt được điều trị khởi đầu bằng NSAID, thuốc thường dùng nhất là indomethacin, diflunisal, naproxen, ibuprofen, diclofenac, meloxican và celecoxib.

            - Nếu không khỏi thì dùng steroid (thường dùng nhất là prenisolone), thoạt đầu, điều trị với liều cao (1 mmg/1kg/ 1 ngày) ở tuần đầu, sau đó giảm dần 2 tuần sau rồi ngưng.

            - Bệnh nhân nếu không đáp ứng với steroid thì điều trị với IMT như methotrexate azathoprin (A2A), leflunomide (LF) các chất ngăn chặn tế bào T như: Cyclosporin A (CcA), Sirolimus và tacrolimus và các chất alkylating như cyclosphospha mide và chlorambucil (CHL). Methotrexate là chất thường dùng nhất vì an toàn và hữu hiệu.