1. Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh:

 

            Mắt hột là một viêm nhiễm mãn tính của kết giác mạc. Tác nhân gây ra là Chlamydia. Bệnh có thể tiến triển thành dịch, lây lan, đặc điểm là hình thành những hột, và những tổn thương sẹo điển hình ở mắt .

 

2. Triệu chứng:

 

            Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những  biểu hiện: Bệnh biểu hiện rất đa dạng với các triệu chứng như sau: ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt; xem báo, đọc sách hay sử dụng máy vi tính nhanh mỏi mắt nhất là buổi chiều.

            Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần,  tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm,  không để lại di chứng và không gây mù.

            Đối với thể nặng tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như lông quặm, lông siêu, sẹo giác mạc, nguy hiểm nhất là dẫn đến mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi đỏ mà dân gian gọi là mắt toét.

 

3. Biến chứng:

 

Thông thường mắt hột có thể gây ra các biến chứng sau đây:

            - Viêm kết mạc mãn tính: làm cho mắt đỏ, ngứa, cộm quanh năm.

            - Lông quặm, lông xiêu: là tình trạng lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào cọ xát liên tục vào giác mạc ( là phần trong suốt ở phía trước của mắt ) gây tổn thương, trầy sướt giác mạc, làm mờ đục giác mạc, loét giác mạc, nguy hiểm hơn nếu kết hợp với tình trạng nhiễm trùng sẽ gây viêm mủ nhãn cầu phải khoét bỏ mắt hoặc làm teo mắt và gây mù. Có ba mức độ quặm:

                        Độ 1: lông mi dọa chạm vào giác mạc

                        Độ 2: lông mi đã chạm vào giác mạc

                        Độ 3: lông mi chạm nhiều vào giác mạc, quét trên bề mặt giác mạc.

            - Viêm sụn mi: là tình trạng dày lên, xơ hóa, làm biến dạng sụn mi

            - Loét giác mạc: bệnh nhân có tình trạng đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa.

            - Bội nhiễm: thường là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương đề kháng kém với tình trạng nhiễm khuẩn, vì vậy khi bị bệnh mắt hột, mắt của bệnh nhân sẽ sưng, giảm khả năng chống chọi với những thâm nhập từ bên ngoài dễ bị nhiễm trùng, nhiễm siêu vi và cả nhiễm vi nấm, những tác nhân này sẽ dẫn đến viêm giác mạc loét giác mạc, những trường hợp nặng có thể gây mù lòa.

            - U hột ở rìa: u hột ở vùng rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi có cả trên toàn bộ giác mạc.

            - Loạn thị: do sạn vôi và các sẹo mắt hột, cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc gồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng vào mắt gây loạn thị, giảm thị lực.

            - Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch. Mắt trắng khô như mắt tượng, mờ hẳn. Khô mắt có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

            - Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ: gây ra triệu chứng mờ mắt, chảy nước mắt sống. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng mà chúng ta hay gọi là tình trạng mắt toét gồm:

                        + Trụi lông mi

                        + Mắt ướt

                        + Bờ mi đỏ.

 

4. Điều trị:

 

            Cách điều trị mắt hột phổ biến hiện nay là dùng thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc mỡ vào mắt theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Thuốc thường được sử dụng hiện nay là pommade Tetracycline 1%, tra mắt vào ban đêm trong 5 đến 10 ngày liền mỗi tháng kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm. Kèm theo uống Tetracycline/ Erythromycine / Doxycycline trong 3-4 tuần

            Việc điều trị phẫu thuật được đặt ra khi có biến chứng như lông quặm, sẹo giác mạc toàn bộ.......

 

5. Phòng bệnh: 

 

            + Dùng nước sạch, không bơi, rửa ở hồ ao, giếng làng.

            + Dùng riêng khăn mặt, luôn giặt khăn bằng xà phòng và phơi nắng.

            + Giữ sạch mắt, không đưa tay bẩn lên mắt.

            + Diệt ruồi.

            + Đối  với cán bộ y tế: Lưu ý khi tra thuốc không chạm vào mắt bệnh nhân. Rửa tay và sát trùng sau khi đã khám mắt có bệnh mắt hột.

 

6. Câu hỏi liên quan:

 

Câu 1: Bị đau mắt hột 1 lần có bị nữa không?

 

            Bệnh đau mắt hột do vi khuẩn Chlamydia gây nên nếu không giữ vệ sinh tốt rất dễ nhiễm bệnh nhiều lần, không phải bệnh nhiễm 1 lần trong đời.

 

Câu 2: Khi bị đau mắt hột có sử dụng nước muối rửa mắt được không?

 

            Những người bị đau mắt hột, khi gặp gió thường hay chảy nước mắt. Cách chữa trị đơn giản nhất có thể áp dụng tại gia đình là hàng ngày dùng nước muối nhạt rửa mắt, hiệu quả rất tốt.