1. Nguyên nhân gây cườm mắt 

  a) Theo Tây y:

            + Do tuổi già, thường gặp ở lứa tuổi 55 – 60.

            + Do bẩm sinh khi em bé vừa sinh ra.

            + Do 1 số bệnh khác gây ra:

                        - Tiểu đường gây biến chứng.

                        - Màng bồ đào viêm.

                        - Cận thị nặng.

                        - Bệnh Calci máu giảm gây biến chứng.

                        - Do chấn thương.

                        - Do hơi nóng hoặc lửa nóng làm thủy tinh thể bị đục gây nên bệnh.

 

   b) Theo Đông Y

 

            + Loại Ngân Phong Nội Chướng: Do sẵn có chứng đầu phong hoặc bị thương đánh ở đầu hoặc thất tinh uất kết hoặc ăn uống nhiều thứ cay nóng, ngon béo, nhiệt tà uất lại, nung nấu gây nên bệnh.

            + Loại Thanh Phong, Lục Phong và Hồng Phong: Thường do âm huyết thiếu hoặc vì quá khiếp sợ, buồn giận hoặc tửu sắc, nhọc mệt làm cho phong khí ở Can bốc lên gây nên bệnh.

            + Loại Hắc Phong:Do uất ức, lo nghĩ, tửu sắc quá độ, làm việc khĩ nhọc khiến cho Can Thận hư yếu, tinh khí của ngũ tạng khơng đưa lên được gây nên bệnh.

 

2. Các triệu chứng của cườm mắt 

            - Giảm thị lực hay nhìn mờ không kèm đau nhức mắt

            - Nhạy cảm với ánh sáng, dễ bị chói. Nhất là giữa trưa nắng hoặc lái xe ban đêm

            - Tăng khả năng nhìn gần, thường xuyên phải thay đổi kính

            - Hình ảnh nhìn nhòe hoặc biến dạng ở một hay cả hai mắt

 

3. Cách chữa trị cườm mắt 

   a) Lối sống

 

            - Thể dục: Tất cả các phương pháp tập luyện làm tăng lượng oxy nhập vào cơ thể (như đi bộ, chạy bộ, leo núi, bơi lội…) đều tốt cho mắt và làm giảm nhãn áp, tránh được cườm nước. Ðây là cách tập luyện rất hữu ích, không những giúp tăng cường sức khỏe mà còn giúp điều trị cườm nước.

            - Tập thở sâu, sống lạc quan, đầu óc thư giãn, tránh những xúc động mạnh, lo nghĩ. Ngủ nhiều cũng là một cách tránh cườm nước.

            - Tập Yoga: Cần lưu ý với thế tập đầu chúc xuống đất, chân đưa lên trời vì có thể làm tăng nhãn áp trong một vài dạng cườm nước, tuy nhiên cũng có lợi đối với một vài dạng khác vì làm máu chảy xuống mắt nhiều hơn, giúp nuôi thần kinh mắt tốt hơn.

            - Luyện tập xoa mắt: Làm tăng thêm lượng máu lưu thông đến mắt để nuôi tế bào thần kinh mắt tốt hơn.

            - Ăn uống: Nên ăn nhiều rau, trái cây, tránh táo bón, kiêng ăn mỡ động vật vì mỡ động vật có thể ảnh hưởng đến mạch máu nuôi thần kinh mắt.

            - Hút thuốc: Có ảnh hưởng gián tiếp đến bệnh cườm nước qua tác hại của các gốc tự do.

            - Châm cứu: Không có ảnh hưởng gì đến cườm nước và mắt, nhưng chưa thấy có tài liệu cụ thể nào đề cập về châm cứu chữa cườm nước.

            - Giải trí: Cần lưu ý khi chơi các loại nhạc cụ phải dùng hơi thở mạnh và lâu như các loại kèn, tù và… vì có thể gây tăng nhãn áp.

 

   b) Các loại vitamin

 

            - Vitamin C: Trước kia người ta thấy vitamin C tiêm tĩnh mạch liều cao sẽ làm hạ nhãn áp trong khoảng 12 tiếng, vì làm tăng áp suất của máu, do đó thủy dịch được hút ra khỏi mắt (giống như truyền manitol). Nhưng với loại vitamin C dạng uống thì chưa xác định được tác dụng đối với nhãn áp. Tuy nhiên, vitamin C là một chất chống oxy hóa nên có tác dụng gián tiếp có lợi cho mắt và chống cườm nước.

            - Vitamin A: Cũng là một chất chống oxy hóa.

            - Vitamin E: Ngoài tính chống oxy hóa mạnh, còn có tác dụng phụ trợ cho phẫu thuật tạo lỗ dò ở cườm nước vì ngăn chặn được sự tăng trưởng của sợi bào, tránh sự bít lỗ dò làm cườm nước tái phát.

 

   c) Các loại thảo dược

 

            - Ginkgo Biloba (Tanakan, Ginkgo…): Ðã được dùng hàng thế kỷ nay tại các nước phương Ðông. Hiện còn dùng phổ biến tại Mỹ để trị một số bệnh về thần kinh ở não như bệnh Alzheimer… Ginkgo có thể có ích cho bệnh nhân bị cườm nước vì có tính chống oxy hóa mạnh, làm tăng lượng máu chảy đến mắt và có tác dụng bảo vệ thần kinh. Một nghiên cứu mới đây được báo cáo tại hội nghị AAO, Mỹ, cho biết Ginkgo có thể cải thiện được một phần thị trường bị khiếm khuyết do cườm nước.

            - Trái sim: Có tác dụng bảo vệ mạch, ngăn chặn tiểu cầu, không có tác dụng trực tiếp trên nhãn áp nhưng có tính bảo vệ thần kinh.

            - Cần sa: Làm giảm nhãn áp. Tuy nhiên hiệu quả trên nhãn áp chỉ kéo dài 3-4 giờ, còn tác dụng phụ lại khá nhiều như làm mắt khô, giảm độ điều tiết, hạ huyết áp tư thế đứng, ung thư… Hiện người ta đang nghiên cứu loại thuốc nhỏ mắt có họ với cần sa để tránh hậu quả phụ.

 

   d) Chiết xuất từ động vật

 

            - Melatonin: Nghiên cứu trên súc vật cho thấy có tác dụng làm hạ nhãn áp. Người ta cho rằng nó có liên quan đến việc kiểm soát đồng hồ sinh học của cơ thể, ảnh hưởng đến nhãn áp. Nhưng chưa có nghiên cứu nào khẳng định điều này.

            - Acid béo Omega: Một số nghiên cứu cho thấy các thổ dân ở Alaska do ăn nhiều mỡ cá nên ít bị cườm nước, tuy nhiên cũng chưa có cơ sở kiểm chứng chắc chắn.