1. Khái niệm:

            
Viễn thị là một loại tật khúc xạ, mắt thiếu lực khúc xạ hội tụ, làm cho hình ảnh của mọi vật hội tụ ra phía sau võng mạc. Để nhìn rỗ hơn, mắt luôn phải điều tiết làm tăng lực khúc xạ để đưa hình ảnh của vật ra phía trước và nằm trên võng mạc.

 
Viễn thị thường là lúc mới sinh và có xu hướng di truyền trong gia đình. Có thể dễ dàng làm đúng tầm nhìn này với kính hoặc kính áp tròng. Một tùy chọn khác là phẫu thuật điều trị.

2. Nguyên nhân:

 

            Nguyên nhân của viễn thị là giác mạc dẹt quá hoặc trục trước - sau của cầu mắt ngắn quá khiến cho hình ảnh không hội tụ ở đúng võng mạc như mắt bình thường mà lại hội tụ ở phía sau võng mạc.

 

3. Phân loại:

 

Người ta chia viễn thị thành 3 loại:

            - Viễn thị nhẹ – dưới 2 đi-ốp

            - Viễn thị trung bình – từ 3 đến 5 đi-ốp.

            - Viễn thị nặng – hơn 5 đi-ốp.

            Ở trẻ em khoảng 3 tuổi, mắt thường bị viễn thị trung bình + 2Diop. Nhưng, song song với quá trình phát triển của trẻ, trục nhãn cầu cũng dài ra, con mắt có kích thước bình thường và trở thành chính thị vào khoảng 15 tuổi. Bởi vậy, viễn thị cũng là một giai đoạn phát triển của mắt trước khi thành chính thị.

            Ở một số người thì sự phát triển này ngừng lại, con mắt bị ngắn, đó là nguyên nhân chính của viễn thị, gọi là viễn thị do trục chiếm hơn 90% tổng số viễn thị.

 

4. Triệu chứng:

 

            Người trẻ bị viễn thị, vì có lực điều tiết tốt, viễn thị không gây nên sự khó chịu nào, nhìn vẫn rất tốt. Khi tuổi lớn dần, lực điều tiết kém đi, nhìn mới thấy khó khăn. Những người có độ viễn thị +1Diop hoặc +2Diop chỉ thấy mắt kém vào tuổi gần 40, trong khi người có độ viễn thị lớn hơn thấy mắt kém sớm hơn.

            Có khá nhiều biểu hiện chủ quan của mắt viễn thị, phổ biến nhất là mỏi mắt. Người viễn thị đầu tiên cảm thấy nhìn gần khó khăn, trong khi nhìn xa còn rất tốt.

            Làm việc lâu bằng mắt sẽ rất mỏi, bắt buộc phải ngưng lại. Sau khi nghỉ ngơi một lát, hết mỏi, làm việc trở lại được và ít lâu sau mỏi mắt lại tái diễn.

            Viễn thị cũng hay gây ra cảm giác nặng ở trán, đau ở thái dương, đôi khi nhức đầu thực sự, và muốn nhìn rõ, mắt phải cố gắng điều tiết, như vậy thường kèm theo sự co kéo các cơ trán, lông mày và mi, khiến cho mắt người viễn thị có những nếp nhăn tạo nên một dạng riêng gọi là “bộ mặt viễn thị”.

            Mắt viễn thị luôn luôn có xu hướng quay vào trong, rất “hoạt động” cho ta một cảm giác là đôi mắt rất tinh.

 

5. Biến chứng:

 

            Vì mắt trẻ phải thường xuyên điều tiết quá độ, gây mất cân bằng giữa độ điều tiết và độ quy tụ nên mắt bị lác trong và trẻ chỉ còn nhìn với một mắt. Kết quả là mắt bị nhược thị (không nhìn được rõ mặc dù được chỉnh kính tối đa). Nhược thị có thể xảy ra ở cả hai mắt hoặc ở một mắt đặc biệt ở những mắt bị viễn thị nặng hơn. Nhược thị làm giảm chức năng thị giác 2 mắt như không nhìn thấy hình nổi, xác định khoảng cách vật không chính xác, ảnh hưởng đến một số nghề nghiệp sau này

     Trẻ bị viễn thị còn dễ bị lác mắt đi kèm, thường là lác trong. Có thể là lác mắt do điều tiết toàn bộ hoặc lác mắt do điều tiết không toàn bộ. Lác mắt do điều tiết toàn bộ thì chỉ cần đeo kính viễn thị đúng số là điều chỉnh được độ lác. 

 

6. Điều trị viễn thị:

 

            - Sửa chữa ống kính: Đối với nhiều người trẻ tuổi, điều trị không cần thiết vì các ống kính mắt của họ linh hoạt, đủ để bù đắp cho tình trạng này. Nhưng khi có tuổi, các ống kính trở nên ít linh hoạt và cuối cùng có thể sẽ cần điều chỉnh ống kính để cải thiện tầm nhìn gần bằng cách đeo kính. Đeo kính viễn thị xử lý khắc phục bằng cách chống lại sự giảm độ cong của giác mạc hoặc kích thước nhỏ (chiều dài) của mắt.

            - Phẫu thuật khúc xạ:  Mặc dù hầu hết các thủ tục phẫu thuật khúc xạ được sử dụng để điều trị cận thị, cũng có thể được sử dụng cho viễn thị. Những phương pháp điều trị phẫu thuật viễn thị bằng cách định hình lại chính xác độ cong của giác mạc.

 

7. Phòng bệnh:

 

Mặc dù không thể ngăn chặn viễn thị, có thể giúp bảo vệ đôi mắt và tầm nhìn. Thực hiện theo các bước sau:

            - Kiểm tra mắt. Bất kể như nhìn thấy thế nào, kiểm tra thường xuyên.

            - Kiểm soát điều kiện sức khỏe mãn tính. Điều kiện nhất định, chẳng hạn như bệnh tiểu đường và huyết áp cao có thể ảnh hưởng đến tầm nhìn nếu không nhận được điều trị thích hợp.

            - Nhận biết các triệu chứng. Đột ngột mất thị giác ở một mắt, đột ngột mờ hoặc nhìn mờ, nhấp nháy ánh sáng, đốm đen, hoặc quầng hoặc cầu vồng xung quanh đèn có thể báo hiệu một vấn đề nghiêm trọng y tế, chẳng hạn như bệnh tăng nhãn áp cấp tính, đột quỵ hoặc một số khác có thể chữa được bệnh võng mạc như võng mạc rách hoặc bong. Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu gặp bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng.

            - Bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời. Đeo kính mát chặn tia cực tím (UV) bức xạ. Điều này đặc biệt quan trọng nếu dành nhiều giờ dưới ánh mặt trời hoặc đang dùng thuốc theo toa làm tăng độ nhạy cảm  với tia cực tím.

            - Ăn thực phẩm lành mạnh. Duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh có chứa nhiều trái cây và rau quả. Một chế độ ăn uống có chứa những thực phẩm này đã được liên kết với một tỷ lệ giảm của thoái hóa điểm vàng. Ăn tối các loại thực phẩm và hoa quả tươi và rau màu, chẳng hạn như cà rốt, khoai lang và dưa đỏ, có chứa vitamin A và beta carotene.

            - Không hút thuốc. Cũng như hút thuốc là không tốt cho phần còn lại của cơ thể, nó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe bất lợi mắt.

            - Sử dụng kính đúng. Các kính đúng tối ưu hóa tầm nhìn. Có bài kiểm tra thường xuyên sẽ đảm bảo rằng toa kính là đúng.

            - Sử dụng ánh sáng tốt. Chuyển đèn có thể cải thiện độ tương phản và giúp nhìn rõ hơn.