Tin và dùng kéo dài các thuốc “bổ mắt, sáng mắt” mà không khám định kỳ, không mổ đục nhân mắt đúng lúc sẽ nguy hiểm. Tuổi già, tiếp xúc nhiều với tia tử ngoại hay do một chấn thương nào đó mà thủy tinh thể bị mờ, gọi là bệnh đục nhân mắt. Ánh sáng đến võng mạc bị giảm nên nhìn thấy lờ mờ như màn sương đục, bị lóe khi nhìn vào đèn, nhìn gần tối hơn nhìn xa, tổng hợp lại là thị lực bị giảm sút. Cần phải dùng kỹ thuật Lasix (mổ lấy thủy tinh thể) hay kỹ thuật Phaco lạnh (hút lấy thủy tinh thể) thay bằng thủy tinh thể nhân tạo. Nếu mắt không bị bệnh gì khác, sau khi mổ thị lực sẽ đạt trở lại 10/10. Tuy nhiên khi thị lực mắt trái còn 7/10, mắt phải còn 8/10 thì chưa thuộc diện cần mổ; chỉ mổ khi thị lực mắt còn 4/10.

         Ta thường gọi một số thuốc dùng trong các trường hợp đục nhân mắt là thuốc “bổ mắt, sáng mắt”. Thực ra, thuốc là các chất chống oxy hóa chỉ trì hoãn sự xuất hiện hay làm chậm tiến triển bệnh, nhưng không thể đảo ngược lại quá trình bệnh lý này.

Chỉ dùng thuốc khi vào tuổi già hay khi bệnh ở thể nhẹ giúp vào dự phòng, còn khi bệnh đã tiến triển đến mức cần phải mổ (thị lực 4/10) thì không thể dùng thuốc điều trị thay cho việc mổ.

     - Iodid (kaliiodid + natriiodid):

           Trên người, ở giai đoạn sớm, iodid dùng tại chỗ làm tăng chuyển hóa, chậm tiến triển đục thủy tinh thể nên chậm giảm thị lực (trong đục nhân), nhưng do thuốc chỉ có tác dụng tại chỗ, nhất thời, không đều (không chắc chắn) nên thầy thuốc chỉ cho dùng giảm tạm thời đục thủy tinh thể (trong đục và xuất huyết thủy tinh thể do viêm quanh tĩnh mạch, đái tháo đường, tuổi tác) mà không dùng thường xuyên chữa bệnh đục tinh thể cho người già. Trên thị trường có biệt dược nhỏ mắt vitreolent, cliden (ngoại), trong bệnh viện có loại tự pha chế với tên kaliiodua.

      - Chondroitin sulfat:

            Chiết từ sụn vi cá mập, có tác dụng ngăn ngừa các protein bị viêm thương tổn, làm chậm sự già hóa, làm thay đổi nhanh các tế bào suy yếu làm mờ đục thủy tinh thể, giác mạc; đảm bảo sự trong suốt cho tổ chức này; cải thiện sức nhìn (dùng trong đục nhân); làm tăng, vững bền collagen nội bào, duy trì tính co giãn của mô liên kết, nên duy trì tính đàn hồi của thủy tinh thể và thể mi, giúp cho sự điều tiết của mắt (dùng trong lão thị); hydrocholin làm tăng dẫn truyền thần kinh thị giác; vitamin B1 giúp dẫn truyền thần kinh thị giác, vitamin B2 giúp tế bào đủ năng lượng phục hồi chức năng võng mạc... Tuy nhiên, vì có thêm vitamin A nên không được dùng liều cao và kéo dài với người mang thai nhằm tránh dị tật thai, với trẻ em nhằm tránh hại xương (mỗi viên đã có 2.500 IU, người có thai không dùng quá 5.000 IU). Khi đã dùng biệt dược này thì không dùng bất cứ biệt dược nào có chứa vitamin A.

      - Pirenoxin:

            Làm giảm hiện tượng đục thủy tinh thể bằng cách tương tác với selenid hay ion calci (là hai yếu tố dẫn đến đục thủy tinh thể của ống kính) cũng chỉ dùng trong dự phòng đục nhân. Thuốc dùng dưới dạng hỗn dịch nhỏ mắt (biệt dược: kary uni, catalin), không được dùng cho trẻ em.